Điều chưa từng có trong tiền lệ thương mại Việt Nam và chuyện Việt Nam dần "thoát" Trung, dịch chuyển nguồn nhập khẩu sang Hàn Quốc

Trong 6 tháng đầu năm, Hàn Quốc đã vượt qua Trung Quốc trở thành thị trường nhập siêu lớn nhất Việt Nam. Đây là chuyện chưa có tiền lệ.

Theo số liệu thống kê, xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc nửa đầu năm 2016 đạt 6,6 tỷ USD, tăng 29,1%, trong đó, điện thoại và linh kiện tăng 29,6%; dệt, may tăng 22,5%.

Ở chiều ngược lại, Hàn Quốc đứng ở vị trí thứ 2 về nhập khẩu của Việt Nam với 22,5 tỷ USD, tăng 51.2%, trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 123,5%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 46,1%; điện thoại và linh kiện tăng 37,7%.

Như vậy, cán cân thương mại giữa Việt Nam – Hàn Quốc đã nghiêng về phía đối tác khi có sự thâm hụt 15,9 tỷ USD.

Với con số này, Hàn Quốc đã vượt mặt Trung Quốc – là 14,1 tỷ USD, trở thành thị trường nhập siêu lớn nhất của Việt Nam.

“Đây là điều chưa từng có trong lịch sử thương mại”, TS. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) nhận xét trong buổi Công bố Báo cáo kinh tế vĩ mô quý II/2017.

Ông Thành cho biết hiện tượng này ông và nhóm nghiên cứu đã quan sát thấy nó đã diễn ra từ 2 – 3 năm trước.

Một năm trước, báo cáo của VEPR cũng đã viết: “Xu hướng dịch chuyển nguồn hàng nhập khẩu của Việt Nam sang phía Hàn Quốc ngày càng trở nên rõ ràng hơn”.

Nhìn vào xu hướng nhập khẩu từ Hàn Quốc, có thể thấy kim ngạch nhập khẩu từ nước này đã có xu hướng tăng mạnh từ năm 2014.

Tại thời điểm đó, phía VEPR đã đưa ra một số nguyên nhân. Thứ nhất, doanh nghiệp Việt Nam đã phát triển hơn nên dịch chuyển nguồn nhập khẩu máy móc từ Trung Quốc sang các nước phát triển hơn với chi phí cao và chất lượng tốt hơn.

Thứ hai, Hàn Quốc là nước đầu tư vào Việt Nam lớn nhất nên họ có xu hướng nhập khẩu máy móc thiết bị từ nước sở tại.

Và đến thời điểm hiện tại, “điều chưa từng có” như TS. Thành nhận xét đã xảy ra, Hàn Quốc từ nước nhập siêu thứ 2 sau Trung Quốc đã trở thành nước thứ nhất. “Điều này có thể sẽ tiếp diễn trong thời gian tới”, ông Thành nói thêm.

Dù vậy, vị chuyên gia kinh tế này cũng nhận xét bản chất của 2 loại nhập siêu này là khác nhau. Nhập siêu của Trung Quốc đến từ những mặt hàng phổ thông bởi Trung Quốc từ trước đến nay được ví như công xưởng khổng lồ của thế giới.

Mặt khác, dù Trung Quốc không đầu tư nhiều vào Việt Nam nhưng máy móc của Trung Quốc vẫn được nhập về với số lượng lớn bởi khoảng 80% các dự án tổng thầu EPC - Hợp đồng thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình (Engineering Procurement and Construction) rơi vào tay Trung Quốc.

Đối với Hàn Quốc lại là câu chuyện khác. Nhập siêu của Việt Nam đi liền với quá trình người Hàn đầu tư mạnh vào Việt Nam. Trong quá trình đó, họ sử dụng tiền đầu tư để nhập khẩu hàng hoá từ nước họ để phục vụ cho công ty tại Việt Nam.

Trên thực tế, trong nhiều năm trở lại đây, Hàn Quốc luôn giữ ngôi vương về đầu tư vào Việt Nam.

Số liệu của Cơ quan Xúc tiến thương mại đầu tư Hàn Quốc (KOTRA) công bố hồi đầu tháng 6 vừa qua cho biết, tính từ năm 1988, các doanh nghiệp Hàn Quốc đã đầu tư 50,5 tỷ USD vào Việt Nam, chiếm 30,8% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, với 5.773 dự án. Có tới 71% tổng số vốn đầu tư được rót vào lĩnh vực chế tạo, tiếp đó là điều hành bất động sản với 14,8% và xây dựng với 5,4%. Những con số trên đã đưa Hàn Quốc trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất vào Việt Nam.

“Chính vì thế năm nay nhập siêu với Hàn mới lớn đến vậy”, ông Thành nhận xét.

Trong số đó, Viện trưởng VEPR đặc biệt lưu ý đến vai trò của Samsung mà theo ông, sự lên xuống của doanh nghiệp này sẽ làm các chỉ số quan trọng của nền kinh tế Việt Nam biến đổi theo.

Đối với câu chuyện trên, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nhận định việc Hàn Quốc vượt mặt Trung Quốc nhập siêu phần nào đó sẽ “đỡ đi sức ép quá đáng từ Trung Quốc”. Tuy nhiên, bà cũng bày tỏ sự lo lắng liệu đây có thể trở thành một trần cản đối với các doanh nghiệp Việt đang muốn vươn mình?

“Vì Hàn Quốc họ đang làm những ngành tiên tiến hơn chúng ta, do đó, khi doanh nghiệp Việt muốn vươn lên thì lại bị chặn lại. Nếu như trước đây, doanh nghiệp Việt bị chặn bởi Trung Quốc nhưng họ chỉ đưa ra được mặt hàng chất lượng tương đương chúng ta, còn Hàn Quốc lại cao hơn vài bậc”, bà nói.

Do đó, vị chuyên gia này cho rằng trong tương lai dài hạn, Việt Nam cần phải xem xét kỹ vấn đề này vì nó có thể thành mối lo ngại về sau.

Theo Trí thức trẻ

Tags:

Xây dựng bộ nhận diện hình ảnh quốc gia Việt Nam

Phó Thủ tướng Mai Văn Chính đã ký Quyết định số 173/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. aa Zalo

Kinh tế - xã hội tiếp tục đạt kết quả tích cực ngay từ tháng đầu năm

Thời gian tới, các bộ, ngành, địa phương cần tập trung quán triệt, triển khai đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Đây là các nội dung nằm trong nhóm nhiệm vụ trọng tâm được Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ tại phiên họp Chính phủ với các địa phương tháng 1/2026 diễn ra ngày 4/2.

“Chìa khóa” thúc đẩy điện gió ngoài khơi

Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng nhanh và dư địa năng lượng truyền thống dần thu hẹp, dù được kỳ vọng trở thành trụ cột mới, tuy nhiên, việc phát triển điện gió ngoài khơi vẫn còn đó những tồn tại.

Tăng tốc hút vốn tư nhân cho kinh tế số

Theo báo cáo thường niên của Google, Temasek và Bain & Company, vốn tư nhân đầu tư vào nền kinh tế số Đông Nam Á trong 6 tháng đầu năm 2025 đạt 7,7 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước.

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm phát: Mục tiêu kép phải đạt được

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đã và đang theo đuổi những mục tiêu được đánh giá là “đầy tham vọng”: trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và đạt phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050. Điều này cho thấy quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam gắn chặt với bài toán khí hậu.

Sẵn sàng cho chu kỳ tăng trưởng mới

Bước sang năm 2026 – năm bản lề khởi đầu chu kỳ tăng trưởng mới giai đoạn 2026–2030, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng bền vững, dựa trên năng suất, khoa học – công nghệ và chất lượng thể chế, qua đó tạo nền tảng hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Video