Đầu tư kho lạnh tại Châu Á Thái Bình Dương ngày càng phát triển

Đầu tư lũy kế vào kho lạnh sẽ vượt 2 tỷ USD vào năm 2030 khi nhu cầu về cơ sở vật chất này tăng lên và giá của các nhà đầu tư khi cân nhắc về chuyên môn và công nghệ.

Các cơ sở kho lạnh sẽ tiếp tục mang đến cơ hội đầu tư dài hạn hấp dẫn ở Châu Á Thái Bình Dương, kèm theo là khả năng mang lại lợi nhuận ổn định và linh hoạt cũng như tạo ra mức giá cho thuê cao hơn so với các loại tài sản khác. Theo JLL (NYSE: JLL), đầu tư vào bất động sản kho lạnh tại Châu Á Thái Bình Dương có thể sẽ vượt 2 tỷ USD từ nay đến năm 2030 - so với mức 948 triệu USD vào năm 2021 - khi các nhà đầu tư tìm cách đa dạng hóa danh mục đầu tư và tận dụng nhu cầu của người dùng cuối cho các cơ sở chuyên dụng hơn.

Từ nay đến năm 2030, JLL tin rằng nhiều yếu tố sẽ thúc đẩy sự phục hồi đầu tư vào kho lạnh, khối lượng đầu tư giảm từ mức cao nhất năm 2021. Cụ thể, các nhà đầu tư sẽ bị thu hút bởi sự ổn định cao hơn của ngành này so với các loại bất động sản khác, cùng với yêu cầu cao với hàng hóa dễ hỏng như thực phẩm và thuốc được bảo quản trong kho lạnh. Ngoài ra, các hợp đồng thuê hấp dẫn, theo đó giá thuê thường sẽ cao hơn các cơ sở công nghiệp và hậu cần tiêu chuẩn, đồng thời thời hạn thuê dài hơn, sẽ thu hút các nhà đầu tư có tư duy tiên phong.

 
Mô hình nhà kho lạnh. Nguồn ảnh: ABA

Gần đây hơn, các rào cản gia nhập lĩnh vực kho lạnh cao hơn đã ảnh hưởng đến hoạt động trong lĩnh vực này nhưng sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư và nhà vận hành chuyên môn hơn. Theo phân tích của JLL, ngày càng có nhiều người chấp nhận rằng việc đầu tư vào kho lạnh đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về tính phức tạp đặc biệt liên quan đến môi trường được kiểm soát nhiệt độ, logistics và tuân thủ quy định. Do đó, thực tế hoạt động này có thể đóng vai trò là lợi thế cạnh tranh cho các nhà đầu tư hiểu biết, đồng thời tạo rào cản cho các nhà đầu tư khác.

Ngoài ra, để lĩnh vực này đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng về cả tính hiệu quả và giải quyết tình trạng gián đoạn trên phạm vi toàn cầu đã làm tổn hại đến một số chuỗi cung ứng, đầu tư công nghệ ngày càng trở thành vấn đề đáng cân nhắc đối với các nhà đầu tư đang quan tâm đến các cơ sở kho lạnh. Những tiến bộ trong lĩnh vực tự động hóa, robot và hiệu quả năng lượng có thể nâng cao đáng kể hiệu quả hoạt động của các cơ sở kho lạnh và giúp giảm chi phí vận hành/người sử dụng khi công nghệ cải tiến, khiến chúng trở nên linh hoạt hơn nhưng cuối cùng vẫn sẽ ưu tiên các nhà đầu tư có kinh nghiệm chuyên môn.

Ảnh hưởng kinh tế vĩ mô cũng sẽ định hình các yêu cầu đầu tư trong tương lai của lĩnh vực kho lạnh ở Châu Á Thái Bình Dương.Số lượng lớn dân số thuộc tầng lớp trung lưu ở Châu Á Thái Bình Dương cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và mức thu nhập ngày càng tăng dự kiến sẽ thúc đẩy mức tiêu dùng ngày càng tăng. Tiêu dùng tư nhân ở Châu Á Thái Bình Dương tăng với tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm mạnh mẽ lên đến 4,1% trong giai đoạn 2013-2022. Con số này được dự báo sẽ tăng lên 4,7% từ năm 2023 đến năm 2025. 

Hơn nữa, ở châu Á, doanh thu từ hoạt động chuyển phát thực phẩm đã tăng hơn gấp đôi từ năm 2019 đến năm 2022, cụ thể từ 92 tỷ USD lên 269 tỷ USD. Doanh thu dự kiến sẽ tăng lên 453 tỷ USD vào năm 2025, phản ánh tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 19,1%. Đồng thời, thị trường logistics bên thứ ba (3PL) toàn cầu được định giá 556,4 tỷ USD vào năm 2022, trong đó Châu Á Thái Bình Dương chiếm khoảng 1/3 thị trường toàn cầu và dự báo sẽ tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm là 4,9% từ năm 2023 đến năm 2027, trước tốc độ tăng trưởng kép hàng năm của Mỹ (2,1%) và Châu Âu (2,2%).

Nguyễn Trọng

Định hướng phân bổ vốn cho doanh nghiệp

Bước sang năm 2026, nền kinh tế toàn cầu không còn vận hành theo một nhịp tăng trưởng chung, mà khả năng cao đang đi vào chu kỳ lệch pha.

Khu công nghiệp Net Zero mở ra động lực tăng trưởng mới

Khu công nghiệp phát thải ròng bằng không (Net Zero Industrial Park – NZIP) được hiểu là mô hình, trong đó các bên liên quan phối hợp chặt chẽ nhằm cắt giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng không trong một khu vực địa lý xác định. Việc phát triển các NZIP không chỉ giúp ngành công nghiệp Việt Nam thích ứng với xu hướng toàn cầu về tăng trưởng xanh, mà còn mở ra động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế trong dài hạn.

Định hướng tập trung đầu tư phát triển một số doanh nghiệp ô tô lớn

Theo Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương, trong bối cảnh mới, việc xây dựng Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam phải tiếp cận theo hướng thực tế, chi tiết và có tính ứng dụng cao hơn. Viện đã báo cáo lãnh đạo Bộ về việc thành lập nhóm công tác mới để rà soát và bổ sung dự thảo trên nền tảng hiện có.

Cải cách trước ngưỡng cửa thu nhập cao

Việt Nam muốn trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 cần xác định rõ yêu cầu cải cách, xây dựng nền tảng vững chắc, thúc đẩy “Đổi Mới 2.0” với tinh thần khẩn trương, quyết đoán.

Video