Từ 01/2/2019, Doanh nghiệp gọi vốn từ trái phiếu sẽ thuận lợi hơn

Một trong những điểm thoáng hơn tại Nghị định mới về phát hành trái phiếu doanh nghiệp đó là không bắt buộc doanh nghiệp phải có lãi trong năm liền trước năm phát hành trái phiếu.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 163/2018/NĐ-CP quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, có hiệu lực từ ngày 1/2/2019.

Theo đó, doanh nghiệp có thời gian hoạt động từ 1 năm trở lên kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp sẽ được phát hành trái phiếu.

Doanh nghiệp phát hành trái phiếu theo nguyên tắc tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn và đảm bảo khả năng trả nợ.

Doanh nghiệp phát hành trái phiếu để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư, để tăng quy mô vốn hoạt động hoặc để cơ cấu lại các khoản nợ của chính doanh nghiệp. Mục đích phát hành phải được doanh nghiệp nêu cụ thể tại phương án phát hành trái phiếu và công bố thông tin cho nhà đầu tư đăng ký mua trái phiếu theo quy định tại Nghị định này.

Việc sử dụng vốn huy động được từ phát hành trái phiếu phải đảm bảo đúng mục đích theo phương án phát hành và nội dung công bố thông tin cho nhà đầu tư.

Đối với phát hành trái phiếu xanh, ngoài việc tuân thủ quy định nêu trên, nguồn vốn từ phát hành trái phiếu được hạch toán, quản lý theo dõi riêng và giải ngân cho các dự án bảo vệ môi trường theo phương án phát hành đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Nhiều điểm "dễ thở" hơn quy định cũ

Theo quy định tại Nghị định 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp thì doanh nghiệp muốn phát hành riêng lẻ trái phiếu phải có kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh năm trước liền kề của năm phát hành có lãi.

Song quy định mới tại Nghị định 163 vừa ban hành không yêu cầu doanh nghiệp phải có lãimà chỉ cần có báo cáo tài chính kiểm toán năm liền trước của năm phát hành được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán đủ điều kiện theo quy định.

Một điểm quan trọng nữa tại Nghị định 163 đó là doanh nghiệp phát hành được mua lại trái phiếu trước hạn hoặc hoán đổi trái phiếu để giảm nợ hoặc cơ cấu lại nợ.

Trường hợp dự kiến trái phiếu phát hành có thể được mua lại trước hạn hoặc hoán đổi trái phiếu, doanh nghiệp phát hành phải nêu cụ thể tại bản công bố thông tin trước đợt phát hành về việc mua lại trước hạn hoặc hoán đổi trái phiếu.

Chậm nhất 15 ngày làm việc trước khi tổ chức mua lại trái phiếu trước hạn, hoán đổi trái phiếu, doanh nghiệp phát hành phải công bố, công khai thông tin về việc mua lại trước hạn, hoán đổi trái phiếu bao gồm: Phương thức tổ chức mua lại, hoán đổi; điều kiện, điều khoản của việc mua lại, hoán đổi; khối lượng trái phiếu mua lại, hoán đổi cho chủ sở hữu trái phiếu theo phương án mua lại trái phiếu trước hạn hoặc hoán đổi trái phiếu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Quy định này thoáng hơn so với quy định cũ ở Nghị định 90 khi yêu cầu doanh nghiệp phát hành chỉ được thực hiện mua lại trái phiếu trước hạn, hoặc hoán đổi trái phiếu để cơ cấu lại nợ, khi có phương án mua lại hoặc hoán đổi được cấp có thẩm quyền phê duyệt trên cơ sở thỏa thuận giữa doanh nghiệp phát hành và chủ sở hữu trái phiếu.

Nhưng nhiều điểm cũng chặt chẽ hơn

Bên cạnh những điểm thoáng hơn thì quy định tại Nghị định 163 cũng yêu cầu chặt chẽ hơn với doanh nghiệp phát hành trái phiếu.

Chẳng hạn doanh nghiệp muốn phát hành riêng lẻ trái phiếu phải có lịch sử thanh toán gốc và lãi trái phiếu đã phát hành (nếu có) trong 3 năm liên tiếp trước đó đầy đủ. Trong khi đó ở Nghị định cũ không quy định điều này.

Về việc công bố thông tin, Nghị định mới yêu cầu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ trái phiếu phải chấp hành quy định về công bố thông tin trước và sau phát hành, trước khi chuyển đổi, hoặc mua lại trước hạn. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng phải công bố thông tin định kỳ 6 tháng 1 lần báo cáo tài chính bán niên, báo cáo tài chính năm được kiểm toán hoặc được chưa được kiểm toán nhưng được đại hội đồng cổ đông/hội đồng thành viên xác nhận, công bố tiến độ sử dụng vốn, thanh toán gốc, lãi trái phiếu…

Theo Trí thức trẻ

Tags:

Nam A Bank xác lập vị thế thành viên chiến lược tại VIFC – HCMC qua ba hợp tác chiến lược

Ngay sau khi chính thức trở thành nhà đầu tư chiến lược của Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC - HCMC), Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank - HOSE: NAB) đã triển khai ký kết hàng loạt thỏa thuận hợp tác chiến lược nhằm triển khai các giải pháp thiết thực, cụ thể hóa vai trò và cam kết của mình trong tiến trình xây dựng một trung tâm tài chính xanh, hiện đại và hội nhập.

Nam A Bank chung tay cùng kiều bào phát triển đất nước thịnh vượng, hạnh phúc

Trong dòng chảy hội nhập toàn cầu, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Thông qua chuỗi hoạt động văn hóa – kết nối – hợp tác trong khuôn khổ Xuân Quê Hương 2026, Nam A Bank cùng các đối tác đã khẳng định vai trò cầu nối kiều bào, chung tay khơi dậy khát vọng cống hiến và kiến tạo một Việt Nam vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.

Chợ Tết và những sáng tạo trong sản phẩm, dịch vụ ngân hàng

Nhìn ở góc độ mua bán trao đổi và thanh toán tại các chợ truyền thống cũng như siêu thị và trung tâm mua sắm dịp Tết, chúng ta cảm nhận nhiều sự khác biệt trong thanh toán, chi trả của người dân – được mang lại bởi các sản phẩm dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của thời đại số.

Ngân hàng đa dạng giải pháp hỗ trợ SME

Theo WB, đến năm 2030, Việt Nam được dự báo có khoảng 2,4 triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), chiếm hơn 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Với vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế, khu vực SME đang trở thành phân khúc trọng tâm trong chiến lược tăng trưởng tín dụng của nhiều ngân hàng thương mại.

Tạo dư địa phát triển cho thuê tài chính

Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV, đang có nhu cầu lớn về nguồn vốn trung, dài hạn để đầu tư máy móc, thiết bị, đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất, trong khi khả năng cân đối vốn tự có còn hạn chế.

Năm 2025, tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai tăng 15,92%

Số liệu chính thức về hoạt động tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai cho thấy, kết thúc năm 2025, tín dụng khu vực này đạt 5.806,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,92% so với năm 2024, phản ánh tốc độ tăng trưởng cao gắn liền với kết quả tăng trưởng kinh tế - xã hội khu vực cũng như cơ chế chính sách, điều hành chính sách tiền tệ tín dụng của Ngân hàng Nhà nước.

Video