Triển khai phòng thủ dân sự phù hợp với từng cấp độ để ứng phó, khắc phục sự cố, thảm họa

Theo Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội Lê Tấn Tới, việc phân định cấp độ phòng thủ dân sự để điều chỉnh thống nhất chung hoạt động của các cấp chính quyền, lực lượng tham gia phòng thủ dân sự và người dân trong ứng phó, khắc phục sự cố, thảm họa.
Triển khai các biện pháp phòng thủ dân sự phù hợp với từng cấp độ để ứng phó, khắc phục sự cố, thảm họa - Ảnh 1.

Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Lê Tấn Tới: Việc phân định cấp độ phòng thủ dân sự để điều chỉnh thống nhất chung hoạt động của các cấp chính quyền - Ảnh: VGP/LS

Các cấp chính quyền địa phương ban bố cấp độ phòng thủ dân sự trên địa bàn quản lý

Chiều 24/5, tiếp tục kỳ họp thứ 5, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội Lê Tấn Tới trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Phòng thủ dân sự.

Về một số ý kiến của đại biểu Quốc hội về phân định cấp độ phòng thủ dân sự nhằm bảo đảm thống nhất, phù hợp với các luật khác, tránh chồng chéo, khó thực hiện, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội Lê Tấn Tới cho biết: Việc phân định cấp độ phòng thủ dân sự để điều chỉnh thống nhất chung hoạt động của các cấp chính quyền, lực lượng tham gia phòng thủ dân sự và người dân trong ứng phó, khắc phục sự cố, thảm họa. Hiện nay, quy định về cấp độ đối với các loại sự cố được quy định khác nhau ở các luật chuyên ngành có liên quan, gắn với đặc điểm, đặc thù của từng loại hình sự cố.

Do đó, dự thảo Luật Phòng thủ dân sự chỉ quy định các cấp độ chung nhất, gắn với vai trò, trách nhiệm của các cấp chính quyền để áp dụng các biện pháp ứng phó phù hợp. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 7 các cấp chính quyền đánh giá, đối chiếu với khả năng ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa của chính quyền và lực lượng phòng thủ dân sự tại địa phương để xác định và ban bố cấp độ phòng thủ dân sự trên địa bàn quản lý; từ đó áp dụng các biện pháp ứng phó, khắc phục phù hợp. Như vậy, việc chính quyền địa phương ban bố cấp độ phòng thủ dân sự trên địa bàn quản lý không chồng chéo với quy định hiện hành về công bố rủi ro thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm hoặc các rủi ro khác.

Về thẩm quyền ban bố, bãi bỏ cấp độ phòng thủ dân sự, theo ông Lê Tấn Tới, dự thảo Luật đã quy định cụ thể thẩm quyền và phân cấp trách nhiệm giữa các cấp chính quyền; thống nhất với các quy định của pháp luật có liên quan. Đồng thời đây là vấn đề liên quan đến quy trình, thủ tục nên dự thảo Luật đã giao Chính phủ quy định chi tiết, tránh nhiều thủ tục hành chính trong Luật.

Triển khai các biện pháp phòng thủ dân sự phù hợp với từng cấp độ

Làm rõ thêm về việc xây dựng luật này theo hướng dẫn chiếu những quy định của các luật khác để tránh trùng lặp hoặc xung đột; bổ sung các quy định còn thiếu trong các luật khác, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Lê Tấn Tới cho biết, phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật Phòng thủ dân sự có liên quan đến hoạt động, chính sách, biện pháp… phòng, chống, khắc phục hậu quả thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh đã quy định tại nhiều luật chuyên ngành có liên quan nên dự thảo luật cần xác định phạm vi điều chỉnh.

Trên cơ sở ý kiến đại biểu, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉnh lý phạm vi điều chỉnh; đồng thời, rà soát, quy định rõ thêm các nội dung khác liên quan đến hoạt động phòng thủ dân sự như: Cấp độ phòng thủ dân sự; xây dựng chiến lược quốc gia phòng thủ dân sự; xây dựng Kế hoạch phòng thủ dân sự; biện pháp ứng phó trong từng cấp độ phòng thủ dân sự, hoạt động phòng thủ dân sự trong tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh; biện pháp khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa trong phòng thủ dân sự.

Hiện nay, quy định về cấp độ đối với các loại sự cố được quy định khác nhau ở các luật chuyên ngành liên quan, gắn với đặc điểm, đặc thù của từng loại hình sự cố. Luật Phòng, chống thiên tai quy định cấp độ rủi ro của mỗi loại thiên tai thành 5 cấp và được gắn với một màu đặc trưng; Luật Bảo vệ môi trường phân chia sự cố theo cấp hành chính (sự cố cấp cơ sở, cấp huyện, cấp tỉnh, cấp quốc gia); Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm chia theo nhóm bệnh truyền nhiễm (nhóm A, nhóm B và nhóm C); Luật Năng lượng nguyên tử phân thành 5 nhóm tình huống để làm cơ sở xây dựng kế hoạch ứng phó...

"Do đó, dự thảo Luật Phòng thủ dân sự chỉ quy định các cấp độ chung nhất, tùy theo loại sự cố, thảm họa của luật chuyên ngành để áp dụng các biện pháp ứng phó phù hợp", ông Lê Tấn Tới nói.

Quy định rõ trách nhiệm của 8 bộ đối với phòng thủ dân sự

Về ý kiến đề nghị bổ sung quy định áp dụng các biện pháp tăng dần theo từng cấp độ phòng thủ dân sự; rà soát các biện pháp để bảo đảm khả thi, tránh chồng chéo.

Qua rà soát, để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho chỉnh lý theo hướng áp dụng các biện pháp tăng dần theo từng cấp độ phòng thủ dân sự và quy định cụ thể thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp tỉnh và Thủ tướng Chính phủ áp dụng các biện pháp trong từng cấp độ.

Về trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng thủ dân sự, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho đổi tên chương VI thành "Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức về phòng thủ dân sự". Trong đó, quy định rõ hơn trách nhiệm của 08 bộ có nhiệm vụ nhiều nhất và liên quan trực tiếp đến hoạt động phòng thủ dân sự. Đồng thời, rà soát, chỉnh lý các điều trong Chương này cụ thể, rõ ràng, thuận lợi trong tổ chức thực hiện.

Bên cạnh đó, ông Lê Tấn Tới cũng cho biết, dự thảo luật cũng quy định rõ việc đầu tư, mua sắm trang thiết bị phòng thủ dân sự phải được thực hiện từ trước khi xảy ra sự cố, thảm họa, bảo đảm nguyên tắc phòng ngừa từ sớm, từ xa. Do đó, không thể chờ đến khi công bố sự cố, thảm họa cấp độ nào mới mua sắm, trang bị.

Đồng thời, việc đầu tư, mua sắm trang thiết bị phòng thủ dân sự phải thực hiện theo kế hoạch phòng thủ dân sự các cấp. Do đó, sẽ hạn chế việc quy định chồng chéo giữa các bộ, ngành trong mua sắm, dự trữ trang thiết bị phòng thủ dân sự.

Theo Lê Sơn (Chinhphu.vn)

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm phát: Mục tiêu kép phải đạt được

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đã và đang theo đuổi những mục tiêu được đánh giá là “đầy tham vọng”: trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và đạt phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050. Điều này cho thấy quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam gắn chặt với bài toán khí hậu.

Sẵn sàng cho chu kỳ tăng trưởng mới

Bước sang năm 2026 – năm bản lề khởi đầu chu kỳ tăng trưởng mới giai đoạn 2026–2030, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng bền vững, dựa trên năng suất, khoa học – công nghệ và chất lượng thể chế, qua đó tạo nền tảng hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Xuất khẩu thuỷ sản tái cấu trúc năm 2026

Mặc dù ghi nhận những cú bật trong khó khăn của năm 2025, thủy sản Việt Nam hướng tới 2026 thận trọng bởi các yếu tố chu kỳ của thị trường, chuyển dịch cơ cấu thị trường và sản phẩm.

Phát huy vai trò nòng cốt, trụ cột phát triển kinh tế của ngành Công Thương trong kỷ nguyên mới

Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Phan Thị Thắng - Thứ trưởng Bộ Công Thương - đã trả lời phỏng vấn báo chí, làm rõ vai trò nòng cốt, trụ cột của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cũng như những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.

Xuất khẩu gạo đầu năm 2026: Thời cơ đã đến nhưng cạnh tranh khốc liệt hơn

Thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam bước vào đầu năm 2026 với nhiều tín hiệu tích cực khi Philippines là một trong những khách hàng lớn nhất dự kiến mở lại nhập khẩu sau giai đoạn điều tiết nguồn cung trong nước. Tuy nhiên, đi kèm với việc mở cửa là chính sách tăng thuế nhập khẩu, khiến bức tranh thị trường không chỉ có gam sáng mà còn đan xen nhiều thách thức, đặc biệt là áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Video