Trái hồng Việt Nam tìm lợi thế cạnh tranh trước áp lực hàng nhập khẩu

Bước vào mùa thu hoạch, trái hồng Việt Nam phải cạnh tranh với nguồn cung từ Trung Quốc, trong đó có những sản phẩm được bán với giá thấp. Sự khác biệt về giống, chất lượng và nguồn gốc đang mở ra cơ hội cho các vùng trồng đặc sản đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao giá trị cho nông sản nội địa.
Trái hồng Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường

Áp lực cạnh tranh về giá

Thị trường trái hồng bước vào giai đoạn sôi động khi nhiều vùng trồng lớn từ miền Bắc đến Tây Nguyên đồng loạt bước vào đợt thu hoạch cao điểm. Thời tiết thuận lợi cùng việc áp dụng bài bản kỹ thuật canh tác tiên tiến đã giúp nhiều địa phương đạt sản lượng vượt trội cả về chất lượng và giá bán. Tại xã Xuân Vân, tỉnh Tuyên Quang, hồng không hạt đang vào mùa thu hoạch. Địa phương có gần 40 ha hồng, với năng suất bình quân khoảng 6 tấn/ha. Nhờ điều kiện thổ nhưỡng phù hợp và kinh nghiệm canh tác lâu năm, loại quả này đã trở thành một trong những cây trồng mang lại thu nhập đáng kể cho người dân. Bình quân mỗi hecta có thể đem lại nguồn thu từ 120-150 triệu đồng.

Những vườn hồng lâu năm cùng kinh nghiệm chăm sóc được tích lũy qua nhiều thế hệ cũng góp phần tạo nên đặc trưng của sản phẩm địa phương. Trong khi đó, tại Lâm Đồng, hồng bước vào mùa thu hoạch với nhiều giống khác nhau, từ hồng giòn đến hồng trứng và hồng Quế Hương. Toàn tỉnh có hơn 1.600 ha hồng, sản lượng hằng năm ước đạt hơn 19.000 tấn. Tuy nhiên, thời tiết không thuận lợi tại một số vùng trồng khiến nguồn cung năm nay có sự khác biệt giữa các địa phương. Theo khảo sát vào đầu tháng 10 tại TP.HCM ghi nhận hồng trứng Đà Lạt có giá 40.000–45.000 đồng/kg, còn hồng giòn Chín Nên loại đẹp dao động 55.000–60.000 đồng/kg.

Tuy nhiên, thời điểm thu hoạch rộ trong nước cũng là lúc thị trường đối mặt với làn hồng Trung Quốc xuất hiện ngày càng nhiều tại các chợ và cửa hàng trái cây. Tại chợ đầu mối nông sản Thủ Đức, giá hồng giòn nhập khẩu đầu buổi dao động 220.000-250.000 đồng/thùng 10 kg nhưng giảm còn 170.000-180.000 đồng/thùng vào cuối buổi. Một số lô hàng tồn được bán lẻ với giá chỉ 10.000 đồng/kg. Mặc dù hình thức một số loại khá tương đồng nếu chỉ nhìn lướt qua nhưng sự khác biệt về độ mộc mạc của vỏ và hương vị tự nhiên vẫn là yếu tố giúp người tiêu dùng nhận diện sản phẩm nội địa. Tuy nhiên, sự gia tăng nguồn cung cùng chênh lệch giá giữa các sản phẩm đang tạo ra áp lực cạnh tranh đối với người trồng và đơn vị phân phối trong nước.

Khai thác lợi thế thương hiệu đặc sản

Trước áp lực về giá, sự đa dạng của các giống hồng trong nước đang tạo điều kiện để nhà vườn tiếp cận nhiều nhóm khách hàng. Thay vì chỉ tập trung vào sản lượng, các vùng trồng có thể khai thác đặc tính riêng của từng giống, gắn sản phẩm với nguồn gốc và xây dựng kênh tiêu thụ phù hợp. Tại các đô thị phía Nam như TP.HCM hay Cần Thơ, sản lượng tiêu thụ hồng Đà Lạt liên tục ghi nhận mức tăng trưởng cao. Nhiều thương lái tại TP.HCM đã tổ chức thu mua quy mô lớn tận các vựa ở Lâm Đồng để vận chuyển về phân phối cho thị trường miền Tây. Lượng cầu dồi dào từ thị trường tiêu thụ miền Tây giúp mặt hàng này duy trì đà tăng trưởng doanh số tốt, đảm bảo biên lợi nhuận cho cả nhà vườn lẫn các khâu phân phối.

Dù vậy, giá bán cao không đồng nghĩa với khả năng mở rộng thị trường không giới hạn. Diện tích trồng nhỏ, quy mô sản xuất phân tán và sự thiếu đồng đều về kỹ thuật vẫn là những vấn đề cần giải quyết. Nếu mở rộng diện tích thiếu quy hoạch hoặc không kiểm soát chất lượng, người trồng có thể đối mặt với nguy cơ dư cung khi nhu cầu thị trường thay đổi. Việc nâng cao sức cạnh tranh của trái hồng nội địa cần bắt đầu từ tổ chức sản xuất. Các vùng trồng cần chú trọng chất lượng đồng đều, thu hoạch đúng độ chín, cải thiện khâu bảo quản và vận chuyển để hạn chế dập nát. Đây cũng là yêu cầu đáng lưu ý đối với hồng Đà Lạt bởi đặc điểm vỏ mỏng khiến một số giống dễ bị tổn thương trong quá trình thu hoạch và phân phối.

Các chuyên gia nhận định xây dựng thương hiệu gắn với vùng trồng, minh bạch nguồn gốc và phát triển các kênh bán hàng phù hợp sẽ giúp người tiêu dùng nhận diện rõ hơn sản phẩm nội địa. Với những giống hồng đặc sản, việc kết nối nhà vườn với đơn vị phân phối và các kênh tiêu thụ trực tiếp có thể góp phần cải thiện đầu ra, đồng thời hạn chế phụ thuộc vào thương lái. Sự cạnh tranh giữa hồng Việt Nam và hàng nhập khẩu không chỉ nằm ở giá bán mà còn ở khả năng đáp ứng nhu cầu của từng nhóm khách hàng. Khi lợi thế về giống, chất lượng và nguồn gốc được chuyển hóa thành giá trị thương mại, các vùng trồng trong nước sẽ có thêm cơ sở để duy trì thị trường và nâng cao thu nhập cho người sản xuất.

 Kim Trang

Theo Tạp chí Doanh nghiệp và Thương hiệu nông thôn

Thương mại Việt Nam - Campuchia hướng tới mục tiêu 20 tỷ USD

Với kim ngạch thương mại song phương đạt 8,67 tỷ USD trong 8 tháng đầu năm 2026, quan hệ kinh tế Việt Nam - Campuchia tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Theo ông Đỗ Việt Phương, Tham tán Thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Campuchia, mục tiêu đưa kim ngạch thương mại hai nước lên 20 tỷ USD là khả thi, song vẫn cần thời gian để thúc đẩy mạnh mẽ hơn.

Gỡ nút thắt vùng nguyên liệu cho ngành chế biến mắc ca

Dù diện tích mắc ca cả nước đã vượt 46.000 ha, nguồn hạt trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu chế biến sâu. Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam chi khoảng 30 triệu USD nhập khẩu mắc ca thô, dù xuất khẩu các sản phẩm chế biến tăng vọt. Thực trạng này đòi hỏi chiến lược phát triển vùng nguyên liệu chuẩn hóa song hành cùng sự tham gia của doanh nghiệp vào chuỗi liên kết.

Hướng phát triển cho các loại hồng đặc sản giá trị cao

Từ một loại quả theo mùa, trái hồng đang dần phân hóa thành nhiều phân khúc giá trị, trong đó những sản phẩm khan hiếm hoặc có đặc tính khác biệt được người mua chấp nhận mức giá cao. Xu hướng này mở ra hướng mới cho việc gia tăng giá trị trái cây đặc sản nội địa.

Việt Nam rút ngắn khoảng cách công nghệ trong nông nghiệp thông minh

Thiếu lao động, chi phí đầu vào và yêu cầu sử dụng tài nguyên hiệu quả đang thúc đẩy nông nghiệp chuyển nhanh sang mô hình dựa trên dữ liệu, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo (AI). Với Việt Nam, vấn đề không chỉ là tiếp nhận công nghệ mới mà còn là chọn được giải pháp phù hợp với quy mô sản xuất và khả năng đầu tư của nông dân.

Video