Đầu tư điện mặt trời áp mái: Tính kỹ bài toán 'tự tiêu thụ'

Điện mặt trời áp mái đang được thúc đẩy mạnh, nhưng điện sản xuất không trùng thời điểm sử dụng đang trở thành nút thắt của nhiều dự án.

Điện mặt trời áp mái khó tự tiêu

Sau thời kỳ phát triển mạnh nhờ cơ chế giá FIT, điện mặt trời áp mái đang bước sang giai đoạn mới với trọng tâm tự sản xuất, tự tiêu thụ. Thay vì phát điện chủ yếu để bán lên lưới, chính sách hiện nay hướng nguồn năng lượng này vào nhu cầu sử dụng tại chỗ của hộ dân, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất.

Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu tiết kiệm tối thiểu 3% tổng điện năng tiêu thụ toàn quốc trong năm 2026 và ít nhất 10% trong các tháng cao điểm nắng nóng từ tháng 4 đến tháng 7. Mỗi năm, cả nước phấn đấu có khoảng 10% cơ quan công sở và 10% hộ gia đình lắp đặt, sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ hoặc đạt mức phát triển tương đương 20% công suất lắp đặt trong kế hoạch giai đoạn 2026 đến 2030 của các địa phương.

Hướng đi này có cơ sở khi điện mặt trời áp mái tạo nguồn cung ngay tại nơi sử dụng, giảm lượng điện lấy từ hệ thống vào ban ngày. Với doanh nghiệp sản xuất, điện sạch tại chỗ còn góp phần giảm phát thải và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu.

Theo Sở Công thương TP.HCM, thành phố có hơn 22.000 hệ thống điện mặt trời mái nhà. Trong đó, 6.241 hệ thống tự sản xuất, tự tiêu thụ có tổng công suất 472 MWp.

Nhưng chính yêu cầu tự tiêu thụ lại làm xuất hiện bài toán khó. Một hệ thống có thể phát điện tốt vào giữa trưa, nhưng hiệu quả đầu tư không chỉ phụ thuộc số kWh tạo ra mà còn phụ thuộc bao nhiêu điện được sử dụng đúng thời điểm. Khi phụ tải thấp, điện dư phải được bán lên lưới, đưa vào hệ thống lưu trữ hoặc giảm công suất phát.

Sự lệch pha này thể hiện rõ tại văn phòng, trường học và nhà máy. Vào thứ Bảy, Chủ nhật, ngày lễ hoặc kỳ nghỉ dài, nhu cầu điện giảm mạnh trong khi hệ thống pin vẫn phát điện. Một nhà máy hoạt động 5 hoặc 6 ngày mỗi tuần có thể rơi vào tình trạng mái nhà tạo ra điện nhưng dây chuyền bên dưới không cần lượng điện tương ứng.

Vì vậy, bài toán điện mặt trời áp mái không còn đơn giản là mái nhà rộng bao nhiêu và lắp được bao nhiêu MWp. Doanh nghiệp phải tính biểu đồ phụ tải từng giờ, lịch sản xuất, mức tiêu thụ cuối tuần và khả năng hấp thụ điện trong những thời điểm thấp tải.

Chính sách mới đã mở thêm đầu ra. Nghị định số 243/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính phủ nâng tỷ lệ sản lượng điện dư được mua bán từ mức tối đa 20% trước đây lên tối đa 50% sản lượng điện phát tại đầu ra của nguồn điện mặt trời mái nhà theo cường độ bức xạ.

Đáng chú ý, từ khi nghị định có hiệu lực đến hết ngày 31/12/2030, bên bán và bên mua có thể thỏa thuận tỷ lệ cao hơn 50% nếu lưới điện khu vực đủ khả năng tiếp nhận và bảo đảm vận hành an toàn. Quy định mới đã mở rộng đáng kể khả năng xử lý lượng điện không sử dụng hết tại chỗ.

TP.HCM cho thấy quy mô thị trường đang tăng nhanh. Theo thông tin tại hội nghị do Sở Công Thương TP.HCM phối hợp với Tổng công ty Điện lực TP.HCM tổ chức ngày 9/9/2026, thành phố có hơn 22.000 hệ thống điện mặt trời mái nhà. Trong đó, 6.241 hệ thống tự sản xuất, tự tiêu thụ có tổng công suất 472 MWp.

Bà Nguyễn Thị Kim Ngọc, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP.HCM, cho rằng điện mặt trời mái nhà trên địa bàn đã có chuyển biến rõ nét nhưng dư địa còn rất lớn. Ông Bùi Trung Kiên, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Điện lực TP.HCM, cho biết chỉ trong khoảng 3 tháng, số hệ thống được ngành điện tiếp nhận thông báo từ người dân tăng gần 3.000 hệ thống.

Khi số lượng hệ thống tăng nhanh, vấn đề không chỉ là lắp thêm bao nhiêu tấm pin. Quan trọng hơn là lượng điện tạo ra được tiêu thụ thế nào để nguồn lực đầu tư không bị lãng phí. 

Điện mặt trời áp mái cần lưu trữ

Nếu điện được tạo ra giữa trưa nhưng nhu cầu lớn xuất hiện vào chiều tối, hệ thống lưu trữ năng lượng BESS là một lời giải. Điện dư có thể được tích lại để sử dụng khi phụ tải tăng hoặc khi hệ thống điện mặt trời ngừng phát.

Đây cũng là lý do Chỉ thị số 10/CT-TTg khuyến khích điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ kết hợp BESS nhằm giảm phụ tải giờ cao điểm và tăng khả năng tự chủ nguồn điện tại chỗ.

Tuy nhiên, lời giải kỹ thuật lại đặt ra bài toán tài chính. Khi bổ sung BESS, vốn đầu tư tăng lên. Doanh nghiệp còn phải tính vòng đời pin, số chu kỳ sạc xả, mức suy giảm dung lượng và chi phí thay thế. Vì vậy, hệ thống lưu trữ không thể được lựa chọn đơn giản theo hướng dung lượng càng lớn càng tốt.

Điều cần tính trước tiên là lượng điện dư thực tế. Nếu nhà máy tiêu thụ gần hết điện mặt trời trong giờ sản xuất, đầu tư BESS quy mô lớn chưa chắc kinh tế. Ngược lại, công trình có phụ tải thấp vào buổi trưa nhưng tăng mạnh vào chiều tối sẽ có nhiều dư địa sử dụng lưu trữ.

Nếu muốn lưu trữ trở thành công cụ giải quyết điện dư, cơ chế tín dụng xanh, chính sách thuế, tiêu chuẩn kỹ thuật và phương án tài chính cho BESS cần được hoàn thiện.

Chính sách hỗ trợ vì vậy cần đi xa hơn việc khuyến khích lắp đặt. Bộ Công Thương đã yêu cầu các địa phương nghiên cứu chính sách hỗ trợ hộ gia đình lắp đặt điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ theo Luật Điện lực năm 2024. Đến giữa tháng 9/2026, mới có 2 trong số 34 tỉnh, thành phố là Bắc Ninh và Lai Châu hoàn thành việc ban hành chính sách hỗ trợ. Các địa phương cũng được đề nghị thúc đẩy điện mặt trời áp mái gắn với BESS.

Nếu muốn lưu trữ trở thành công cụ giải quyết điện dư, cơ chế tín dụng xanh, chính sách thuế, tiêu chuẩn kỹ thuật và phương án tài chính cho BESS cần được hoàn thiện.

Với doanh nghiệp, cách tính hiệu quả đầu tư cũng cần thay đổi. Câu hỏi đầu tiên không nên là mái nhà lắp được bao nhiêu MWp, mà phải là nhà máy có thể sử dụng hiệu quả bao nhiêu điện vào đúng thời điểm hệ thống phát.

Điều này còn ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng vay vốn. Khi nguồn thu bán điện không còn đóng vai trò như thời kỳ FIT, hiệu quả dự án phụ thuộc nhiều hơn vào tiền điện tiết kiệm được, tỷ lệ tự tiêu thụ và khả năng xử lý điện dư.

Việc nâng tỷ lệ bán điện dư lên 50% và cho phép thỏa thuận cao hơn trong một số trường hợp đã tạo thêm dư địa cho thị trường. Nhưng bán điện dư mới giải quyết 1 phần vấn đề. Đích đến vẫn phải là nâng hiệu quả sử dụng điện ngay tại nơi sản xuất.

Điện mặt trời áp mái đang chuyển từ giai đoạn chú trọng công suất lắp đặt sang giai đoạn phải tính kỹ hiệu quả thực tế. Giá trị của 1 MWp không chỉ nằm ở lượng điện có thể tạo ra dưới nắng, mà còn ở bao nhiêu điện được sử dụng, lưu trữ hoặc đưa vào hệ thống.

Giải được bài toán tự tiêu thụ, những mái nhà có thể trở thành nguồn điện phân tán hữu ích. Nếu không, nghịch lý vẫn tồn tại khi điện sạch có sẵn trên mái nhưng nguồn lực đầu tư chưa thể phát huy hết giá trị.

Theo vietnamfinance.vn

Chanh leo Việt Nam tăng trưởng xuất khẩu phải đi cùng chuẩn hóa

Chanh leo đang nổi lên như một trong những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng tốt với thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng tại Trung Quốc, EU và triển vọng tiếp cận Mỹ. Cùng với cơ hội gia tăng kim ngạch, ngành hàng đang đứng trước yêu cầu nâng cao chất lượng vùng nguyên liệu, kiểm soát dư lượng, truy xuất nguồn gốc và tổ chức sản xuất theo chuỗi để duy trì sức cạnh tranh dài hạn.

Thương mại Việt Nam – Canada khởi sắc, dư địa hợp tác vẫn rộng mở

Quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam – Canada tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Cùng với sự gia tăng về quy mô, những thay đổi trong chính sách thương mại và chuỗi cung ứng đang mở ra thêm dư địa để hai nước thúc đẩy đầu tư, liên kết sản xuất và khai thác hiệu quả hơn Hiệp định CPTPP.

An Giang tìm cơ hội đưa nông sản, thủy sản vào sâu hơn thị trường Quảng Tây

Tham gia Hội chợ Trung Quốc - ASEAN (CAEXPO) lần thứ 23 năm 2026 tại Nam Ninh (Trung Quốc), tỉnh An Giang không chỉ quảng bá hình ảnh, sản phẩm đặc trưng mà còn tìm kiếm cơ hội mở rộng thị trường cho nông sản, thủy sản, kết nối logistics, du lịch và ứng dụng trí tuệ nhân tạo với Quảng Tây.

Hướng ngư dân đến mô hình lồng nuôi thủy sản bền vững

Nuôi thủy sản lồng bè đang đứng trước yêu cầu chuyển sang mô hình hiện đại, tăng được hiệu quả lẫn giá trị trên từng đơn vị mặt nước. Việc ứng dụng lồng HDPE, thiết kế phù hợp vùng nuôi, kiểm soát môi trường bằng dữ liệu và từng bước đưa hoạt động nuôi ra vùng biển có điều kiện thuận lợi hơn đang mở ra hướng tăng năng suất, giảm rủi ro và nâng giá trị thủy sản.

Video