Quên lựa chọn quốc tịch nhà đầu tư nước ngoài: Rủi ro cho an ninh quốc gia

Vụ Formosa gây thảm họa môi trường mới đây xảy ra trong bối cảnh một loạt các nước như Mỹ, Anh và Australia từ chối cấp phép cho những dự án của các Cty Trung Quốc vì lý do an ninh, đang rung lên một hồi chuông báo động về sự cần thiết phải lựa chọn quốc tịch nhà đầu tư.

[caption id="attachment_31407" align="aligncenter" width="588"]Ở VN, rất nhiều dự án nhiệt điện đang được xây dựng hoặc được đầu tư bởi các nhà đầu tư Trung Quốc. Ảnh: Dự án nhiệt điện Mông Dương 2 Ở VN, rất nhiều dự án nhiệt điện đang được xây dựng hoặc được đầu tư bởi các nhà đầu tư Trung Quốc. Ảnh: Dự án nhiệt điện Mông Dương 2[/caption]

Câu chuyện được quan tâm nhiều nhất trong lĩnh vực năng lượng ở nước Anh những ngày này có lẽ là chuyện Chính phủ của Thủ tướng Theresa May đã đột ngột đưa ra quyết định dừng thông qua dự án nhà máy điện hạt nhân Hinkley Point có tổng mức đầu tư 18 tỷ Bảng Anh, chỉ một ngày trước lễ công bố dự án được thông qua.

Thế giới quan ngại

Quyết định đột ngột này đặt hai nhà thầu xây dựng là tập đoàn EDF của Pháp và Tập đoàn Điện nguyên tử Trung Quốc (hai nhà tài trợ vốn chính cho dự án) từ tình trạng gần như chắc chắn trúng thầu vào cảnh phải chờ đợi mà không biết thế nào.

Tương tự, mới đây Chính phủ Australia đã tuyên bố bước đầu từ chối phê duyệt việc bán 50,4% cổ phần của Cty Ausgrid – Cty đang kiểm soát mạng lưới cung cấp điện của New South Wales và cũng là mạng lưới điện lớn nhất nước – cho hai nhà đầu tư Trung Quốc gồm Tcty Lưới điện quốc gia Trung Quốc và Cty Hạ tầng Cheung Kong có trụ sở tại Hồng Kông trong thời hạn 99 năm. Trước đó, Australia cũng từ chối phê duyệt thương vụ mua bán cổ phần giữa Cty Dakang Australia Holdings có nguồn gốc Trung Quốc và Cty S.Kidman & Co của Australia. Theo đó Dakang Australia Holdings sẽ mua 80% cổ phần của S.Kidman – Cty đang sở hữu nhiều trang trại gia súc có tổng diện tích tương đương 1,3% diện tích của Australia.

Có một điểm chung giữa hai câu chuyện này là các dự án đầu tư bị từ chối phê duyệt đều có gắn với nhà đầu tư Trung Quốc, và đều vì lý do ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.

Dường như đang có một xu hướng trên thế giới rằng nhiều nước đang cảm thấy an ninh quốc gia bị đe dọa nếu chấp thuận mọi dự án đầu tư của các nhà đầu tư đến từ Trung Quốc. Tại Mỹ, đầu năm nay đã có hàng chục nghị sỹ gửi thư đến Ủy ban Đầu tư nước ngoài và Bộ Tài chính bày tỏ lo lắng về an ninh quốc gia sau những vụ thâu tóm DN Mỹ của các nhà đầu tư Trung Quốc như vụ Syngenta bị bán cho ChemChina với giá 48 tỷ USD, Ingram Micro bán cho HNA Group với giá 6,3 tỷ USD, GE bán toàn bộ mảng kinh doanh đồ gia dụng cho Haier với giá 5,4 tỷ USD…. Các nghị sỹ Mỹ lo lắng rằng một vài thương vụ đó sẽ cho phép các Cty Trung Quốc, rất nhiều trong số đó được chính phủ Trung Quốc đứng đằng sau, tiếp cận với những công nghệ hoặc thông tin nhạy cảm của Mỹ.

Đến lúc VN phải lựa chọn

Những câu chuyện trên nghe có vẻ xa xôi, nhưng lại là những hồi chuông gióng lên liên tục tới việc thực hiện chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài ở VN.

Số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài cho thấy trong 7 tháng năm 2016, đã có 159 dự án đầu tư đến từ Trung Quốc đại lục được cấp phép trên khắp cả nước, tổng vốn đăng ký đầu tư là 393 triệu USD. Nếu tính cả Đài Loan và Hồng Kông thì đã có hơn 300 dự án, tổng vốn đầu tư hơn 1,6 tỷ USD. Còn tính lũy kế từ trước đến cuối tháng 7/2016, số lượng các dự án của riêng Trung Quốc đại lục là 1.475 dự án, tổng vốn đăng ký hơn 10,8 tỷ USD, đứng thứ 9 trên bảng xếp hạng. Đài Loan và Hồng Kông lần lượt xếp ở vị trí thứ tư và thứ sáu.

Như vậy, có thể thấy vốn đầu tư từ Trung Quốc vào VN trong những năm qua không hề nhỏ. Tất nhiên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, và VN đang cần vốn nước ngoài, thì vốn đầu tư từ Trung Quốc cũng đáng hoan nghênh. Tuy nhiên câu chuyện từ chối đầu tư Trung Quốc ở Anh hay Australia, và thảm họa môi trường Formosa (Đài Loan) gây ra ở dọc biển miền trung, cho thấy rằng đã đến lúc cần phải lựa chọn cẩn thận quốc tịch nhà đầu tư nước ngoài để đảm lợi ích quốc gia.

Giáo sư Trần Ngọc Thơ – giảng viên Trường Đại học Kinh tế TPHCM, trong một bài viết gần đây đã nhận định rằng hầu hết các tập đoàn đa quốc gia Trung Quốc đều có gốc là DNNN của Trung Quốc. Vì vậy, động cơ của các tập đoàn đa quốc gia này tuyệt nhiên không bao giờ tuân theo những nguyên lý của một nền kinh tế thị trường khi họ đem vốn đầu tư ra thế giới.

“Đã là các DNNN thì vốn FDI từ các tập đoàn đa quốc gia Trung Quốc vào VN sẽ tuân theo những chỉ đạo từ chính quyền trung ương Trung Quốc, và đương nhiên sẽ vượt khỏi phạm vi kinh tế thuần túy. Đây có lẽ là gót chân Achilles lớn nhất trong chiến lược thu hút FDI khi ta hầu như bàng quan về quốc tịch của các tập đoàn đa quốc gia” – ông Thơ viết.

Bình luận của ông Thơ gợi nhớ một điều rằng trong khi Anh và Australia lo ngại rằng các nhà đầu tư Trung Quốc, nếu được đầu tư vào các dự án điện, sẽ gây nguy hại đến an ninh năng lượng quốc gia, thì ở VN rất nhiều dự án nhiệt điện đang được xây dựng hoặc được đầu tư bởi các nhà đầu tư Trung Quốc. Trong đó có thể kể đến dự án nhiệt điện Hải Dương, dự án nhiệt điện Mông Dương 2 và dự án nhiệt điện Vĩnh Tân 1.

Giáo sư Nguyễn Mại – Chủ tịch Hiệp hội các DN có vốn đầu tư nước ngoài, từng nhiều lần nói rằng chính phủ cần phải có một chiến lược thu hút và lựa chọn dòng vốn đầu tư, trong đó tập trung vào nguồn đầu tư đến từ Châu Âu, Mỹ hay các nước phát triển ở Châu Á như Nhật Bản và Hàn Quốc. Ông chưa một lần đưa Trung Quốc vào danh sách của ông, vì theo ông tác động lan tỏa và lợi ích từ đầu tư Trung Quốc mang lại không nhiều, thậm chí còn để lại hậu quả như trường hợp của Formosa.

Theo Enternews

Tags:

Tăng tốc hút vốn tư nhân cho kinh tế số

Theo báo cáo thường niên của Google, Temasek và Bain & Company, vốn tư nhân đầu tư vào nền kinh tế số Đông Nam Á trong 6 tháng đầu năm 2025 đạt 7,7 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước.

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm phát: Mục tiêu kép phải đạt được

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đã và đang theo đuổi những mục tiêu được đánh giá là “đầy tham vọng”: trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và đạt phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050. Điều này cho thấy quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam gắn chặt với bài toán khí hậu.

Sẵn sàng cho chu kỳ tăng trưởng mới

Bước sang năm 2026 – năm bản lề khởi đầu chu kỳ tăng trưởng mới giai đoạn 2026–2030, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng bền vững, dựa trên năng suất, khoa học – công nghệ và chất lượng thể chế, qua đó tạo nền tảng hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Xuất khẩu thuỷ sản tái cấu trúc năm 2026

Mặc dù ghi nhận những cú bật trong khó khăn của năm 2025, thủy sản Việt Nam hướng tới 2026 thận trọng bởi các yếu tố chu kỳ của thị trường, chuyển dịch cơ cấu thị trường và sản phẩm.

Phát huy vai trò nòng cốt, trụ cột phát triển kinh tế của ngành Công Thương trong kỷ nguyên mới

Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Phan Thị Thắng - Thứ trưởng Bộ Công Thương - đã trả lời phỏng vấn báo chí, làm rõ vai trò nòng cốt, trụ cột của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cũng như những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.

Video