Phục hồi sản xuất kinh doanh: Doanh nghiệp 'đói' vốn

19 thứ 4 kéo dài khiến doanh nghiệp (DN) cạn kiệt sức lực, kiệt quệ tài chính, đứt gãy dòng tiền. Việc Chính phủ và các tỉnh, thành quyết tâm nới lỏng giãn cách, tăng cường phục hồi sản xuất kinh doanh sẽ thúc đẩy DN sớm phục hồi. Tuy nhiên, họ cần ngân hàng bơm thêm “ô xy tín dụng” để tạo thêm nguồn vốn khôi phục sản xuất.

Phục hồi sản xuất kinh doanh: Doanh nghiệp 'đói' vốn

Cần vốn vay lãi suất thấp

Ông Trần Văn Lĩnh, Chủ tịch HĐQT Công ty Thủy sản Thuận Phước cho biết, từ đầu năm 2021 đến nay, dịch bùng phát mạnh, ảnh hưởng đến các lĩnh vực đã khiến hàng loạt chi phí tăng vọt như cước vận tải, vật tư, bao bì, thức ăn chăn nuôi, kho đông lạnh… DN rơi vào cảnh phí chồng phí.

Bên cạnh đó, việc thực hiện “3 tại chỗ” khiến DN tiếp tục phải gánh thêm một khoản chi phí lớn cho việc xét nghiệm. Trong khi đầu ra sản phẩm của DN hạn chế, nhiều đơn hàng không thực hiện được khiến doanh thu của công ty giảm mạnh.

“Hoạt động của công ty phải lấy từ nguồn lợi nhuận tích lũy của DN, nhưng nay cũng bị bào mòn hết. Lúc này, DN muốn khôi phục sản xuất để trả các đơn hàng cho đối tác để giữ khách hàng nên rất cần nguồn vốn lãi suất thấp. Còn nếu vay với lãi suất vẫn 7 - 8%/năm sẽ rất khó cho DN”, ông Lĩnh cho hay.

Theo ông Lĩnh, nhiều DN tại Đà Nẵng thời gian qua không có nguồn vốn để vực dậy, nên vẫn đang tiếp tục đóng cửa. Do vậy, nếu muốn DN phục hồi trong giai đoạn này, Chính phủ, các bộ, ngành cần có chính sách tài khóa, tiền tệ mạnh mẽ hơn trước, còn nếu chỉ hỗ trợ lắt nhắt, không có nhiều ý nghĩa đối với DN.

Ông Phạm Thái Bình, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An cho biết, qua thời gian giãn cách xã hội, lượng hàng tồn kho của DN ở mức khá cao nên thiếu dòng tiền để phục hồi sản xuất. Giờ đây, DN đang có nhu cầu thu mua lúa gạo để chế biến, xuất khẩu, song do “đói” vốn nên đành bó tay.

Theo khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM, trong 100 DN được khảo sát cho thấy, có trên 84% DN nhỏ và vừa gặp khó khăn do dịch tái bùng phát lần thứ 4. Trong đó, số DN thiếu vốn kinh doanh chiếm 40%; DN bị đứt chuỗi cung ứng nguyên liệu chiếm 14%... Áp lực lớn nhất hiện nay của DN là thiếu vốn và giá nguyên liệu tăng.

Theo ông Bình, bất cập của ngành lúa gạo hiện giờ là việc liên kết giữa nông dân và DN còn hạn chế. Do vậy, khi sản xuất lúa xong, nông dân không tìm được đầu ra, dẫn tới giá lúa giảm. “Mọi khó khăn này, tôi cho rằng chỉ nằm ở nguồn vốn. Bao năm chúng ta cứ nói đến hình thành những cánh đồng mẫu lớn. Chúng tôi cũng muốn làm lắm nhưng không có tiền để thực hiện. Nếu DN được vay một nguồn vốn lãi suất thấp vào lúc này, tôi tin rằng, mọi khó khăn của nông dân sẽ được tháo gỡ”, ông Bình cho hay.

Trông đợi thêm từ gói hỗ trợ 

Trao đổi với PV Tiền Phong, ông Nguyễn Quốc Anh, Giám đốc Cty TNHH cao su Đức Minh cho biết, bản thân DN sản xuất vào thời điểm này không cần vay vốn để mở rộng sản xuất mà cần vốn để đáo hạn khoản nợ cũ. Hiện tại, nguồn tiền về của DN gặp khó khăn, bởi khách hàng không có tiền trả mà hằng tháng vẫn phải gắng gượng trả lãi ngân hàng. Các khách sạn, nhà hàng được khoanh nợ còn DN sản xuất vẫn trông đợi các gói hỗ trợ.

“DN đang vay ngân hàng 10 tỷ đồng, lãi suất ngắn hạn 6,5%/năm, dài hạn 8,5%/năm. Việc trả lãi ngân hàng cũng gây áp lực rất lớn lên DN. Bây giờ, tiền DN thu hồi được ít dần. Cụ thể, với hàng giao trong tháng 8, 9 khách hàng chưa trả. Nếu tháng 11, 12 tới, khách hàng không trả, DN không có khả năng trả ngân hàng nữa. Nguyện vọng DN lúc này là được giãn nợ, khoanh nợ chứ không dám vay thêm, bởi không bán được hàng”, ông Quốc Anh nói.

Theo ông Quốc Anh, hiện tại, công ty gặp khó khăn khi một số công nhân về quê nhưng không tất toán được bảo hiểm vì nợ tiền. “Cụ thể, DN đóng tiền bảo hiểm cho công nhân đến tháng 7 còn tháng 8, 9 chưa đóng nên DN bảo hiểm không cho giải quyết hồ sơ lao động. Trong khi đó, dòng tiền về DN chậm nên không biết làm sao xoay xở”, ông Quốc Anh nói.

Ông Quốc Anh cho biết thêm, vay ngân hàng đóng bảo hiểm không được, bởi hiện nay mới có quy định cho vay mở rộng sản xuất và trả lương. Đây cũng là một khoản đóng lớn của DN.

Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TPHCM lưu ý: “Kẹt tiền, kẹt vốn, bị mất thanh khoản là rủi ro và là nguy cơ lớn nhất của mọi DN. Do DN chưa bán được hàng, dẫn đến thiếu dòng tiền, vì thế DN có thể bị chết trên đống tài sản của chính mình”.

Theo ông Châu, cái khó do “thiếu dòng tiền” có liên quan trực tiếp đến “khó về tín dụng” vì trong lúc này lãi suất vốn vay chưa giảm như kỳ vọng và DN vẫn phải trả lãi ngân hàng đều đặn hằng tháng. Thậm chí, có doanh nghiệp phải đi “vay nóng” để trả lương, duy trì hoạt động tối thiểu”.

Theo Ngọc Mai (Tiền phong)

Xuất khẩu thuỷ sản tái cấu trúc năm 2026

Mặc dù ghi nhận những cú bật trong khó khăn của năm 2025, thủy sản Việt Nam hướng tới 2026 thận trọng bởi các yếu tố chu kỳ của thị trường, chuyển dịch cơ cấu thị trường và sản phẩm.

Phát huy vai trò nòng cốt, trụ cột phát triển kinh tế của ngành Công Thương trong kỷ nguyên mới

Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Phan Thị Thắng - Thứ trưởng Bộ Công Thương - đã trả lời phỏng vấn báo chí, làm rõ vai trò nòng cốt, trụ cột của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cũng như những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.

Xuất khẩu gạo đầu năm 2026: Thời cơ đã đến nhưng cạnh tranh khốc liệt hơn

Thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam bước vào đầu năm 2026 với nhiều tín hiệu tích cực khi Philippines là một trong những khách hàng lớn nhất dự kiến mở lại nhập khẩu sau giai đoạn điều tiết nguồn cung trong nước. Tuy nhiên, đi kèm với việc mở cửa là chính sách tăng thuế nhập khẩu, khiến bức tranh thị trường không chỉ có gam sáng mà còn đan xen nhiều thách thức, đặc biệt là áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Chuẩn hóa phân loại đô thị, đưa công nhận loại đô thị trở thành công cụ quản lý và điều tiết phát triển bền vững

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội vừa thông qua Nghị quyết về phân loại đô thị, quy định hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn và cơ chế tổ chức thực hiện việc phân loại, công nhận loại đô thị trên phạm vi cả nước. Nghị quyết đặt mục tiêu chuẩn hóa toàn diện phương pháp phân loại đô thị, gắn chặt việc công nhận loại đô thị với quy hoạch, chương trình phát triển đô thị và trách nhiệm thực thi của chính quyền địa phương, qua đó đưa phân loại đô thị trở thành một công cụ quản lý nhà nước thực chất, phục vụ điều tiết đầu tư và phát triển đô thị bền vững.

Video