Để tăng tỉ lệ nội địa hóa công nghiệp hỗ trợ

Chỉ khoảng 0,2% trong tổng số gần 1 triệu doanh nghiệp (DN) Việt Nam tham gia sản xuất, chế tạo trong ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT). Do đó khối lượng linh kiện nhập khẩu hằng năm về Việt Nam lắp ráp, chế tạo, sản xuất để xuất khẩu lên đến hàng chục tỷ USD.
Công nghiệp hỗ trợ: Làm gì để

Sản phẩm CNHT chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước

Tỉ lệ nội địa hóa thấp

Tại sự kiện "Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ tại Khu công nghiệp (KCN) hỗ trợ Nam Hà Nội" mới đây, ông Nguyễn Hoàng, Phó Chủ tịch Hiệp hội CNHT Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội DN ngành CNHT Hà Nội cho biết: Việt Nam chỉ có khoảng 0,2% trong tổng số gần 1 triệu DN Việt Nam tham gia vào sản xuất, chế tạo trong ngành CNHT. Đây là con số quá thấp khi so sánh với cộng đồng DN CNHT tại một số nước ngay trong khối ASEAN.

Trong đó, tỉ lệ nội địa hóa các sản phẩm CNHT của DN Việt Nam thuộc ngành chế tạo ô tô đạt khoảng 5-20%; điện tử 5-10%; da giày 30%; dệt may 30%. CNHT cho công nghệ cao đạt khoảng 1-2%; cơ khí chế tạo khác 15-20%...

Từ hạn chế về việc nội địa hóa các sản phẩm CNHT dẫn tới khối lượng linh kiện nhập khẩu hằng năm về Việt Nam lắp ráp, chế tạo, sản xuất để xuất khẩu lên đến hàng chục tỷ USD.

Đánh giá về sự phát triển của ngành CNHT, ông Nguyễn Chí Dũng , Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, 2 năm qua, do ảnh hưởng của dịch COVID-19, kinh tế thế giới bị ảnh hưởng nặng nề. Tuy vậy, những đóng góp của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP của Việt Nam vẫn chiếm tỉ trọng cao, từ 6,69% năm 2020 tăng lên 25,13% năm 2021. Đây là một trong những điểm sáng nổi bật của phát triển kinh tế.

Tuy nhiên, CNHT của Việt Nam vẫn đang còn rất yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất trong nước. Một số ngành công nghiệp có thế mạnh của Việt Nam như điện tử, dệt may, da giày, lắp ráp ôtô, xe máy… hầu như chưa có ngành CNHT đi kèm, đang phải phụ thuộc rất nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu. Điều này dẫn đến sản xuất manh mún, bị động, chi phí sản xuất cao, giá trị gia tăng tạo ra tại Việt Nam thấp.

Về nguyên nhân của tình trạng trên, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho rằng, các DN CNHT của Việt Nam đang còn hạn chế về năng lực quản lý sản xuất, trình độ công nghệ, chưa áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế hay công cụ quản lý sản xuất. Theo đó, chỉ có khoảng 20% DN có chứng nhận ISO 9.000; 90% DN có chứng nhận ISO 14.000...

Cần gói giải pháp cấp thiết, đặc thù về vốn

Để phát triển ngành CNHT Việt Nam, ông Nguyễn Hoàng cho rằng, Chính phủ cần sớm xây dựng Luật CNHT và trình Quốc hội ban hành. Bên cạnh đó, cần thành lập Ban chỉ đạo cấp nhà nước do Phó Thủ tướng Chính phủ làm trưởng ban với sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương, DN để thống nhất chỉ đạo thúc đẩy giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc cho DN CNHT. Mặt khác, cần quy hoạch cụ thể từng vùng kinh tế để phát triển các ngành CNHT…

Để giải quyết những trở ngại đối với DN sản xuất sản phẩm CNHT, cần có gói giải pháp cấp thiết, đặc thù về vốn. Việc kết nối với các DN, tập đoàn quốc tế lớn đang có mặt tại Việt Nam rất quan trọng, để DN có thể tham gia vào chuỗi sản xuất CNHT.

Hiện, Bộ Công Thương đang trình Chính phủ xây dựng Luật Phát triển công nghiệp, đây là cơ hội rất tốt để chúng ta đánh giá lại, đồng thời có giải pháp để thúc đẩy, hỗ trợ khu vực DN này trong thời gian tới.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đang sửa Nghị định số 82/2018/NĐ-CP về quản lý KCN và khu kinh tế, trong đó đề xuất rất nhiều cơ chế, chính sách mới phát triển khu kinh tế, KCN trong tình hình mới.

Theo Nhật Thy (Chinhphu.vn)

Phát huy vai trò nòng cốt, trụ cột phát triển kinh tế của ngành Công Thương trong kỷ nguyên mới

Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Phan Thị Thắng - Thứ trưởng Bộ Công Thương - đã trả lời phỏng vấn báo chí, làm rõ vai trò nòng cốt, trụ cột của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cũng như những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.

Xuất khẩu gạo đầu năm 2026: Thời cơ đã đến nhưng cạnh tranh khốc liệt hơn

Thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam bước vào đầu năm 2026 với nhiều tín hiệu tích cực khi Philippines là một trong những khách hàng lớn nhất dự kiến mở lại nhập khẩu sau giai đoạn điều tiết nguồn cung trong nước. Tuy nhiên, đi kèm với việc mở cửa là chính sách tăng thuế nhập khẩu, khiến bức tranh thị trường không chỉ có gam sáng mà còn đan xen nhiều thách thức, đặc biệt là áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Chuẩn hóa phân loại đô thị, đưa công nhận loại đô thị trở thành công cụ quản lý và điều tiết phát triển bền vững

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội vừa thông qua Nghị quyết về phân loại đô thị, quy định hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn và cơ chế tổ chức thực hiện việc phân loại, công nhận loại đô thị trên phạm vi cả nước. Nghị quyết đặt mục tiêu chuẩn hóa toàn diện phương pháp phân loại đô thị, gắn chặt việc công nhận loại đô thị với quy hoạch, chương trình phát triển đô thị và trách nhiệm thực thi của chính quyền địa phương, qua đó đưa phân loại đô thị trở thành một công cụ quản lý nhà nước thực chất, phục vụ điều tiết đầu tư và phát triển đô thị bền vững.

Video