Đa số thành viên Chính phủ đồng ý đưa thuế xuất khẩu xi măng về 0%

Đại diện Tổng cục Hải quan cho biết đã nhận được 16 ý kiến thành viên Chính phủ đồng tình với việc sửa đổi Nghị định 100. Kể từ khi có hiệu lực ngày 1/7/2016, sản phẩm của nhiều doanh nghiệp bị đánh thuế, ảnh hưởng hoạt động xuất khẩu, như trường hợp của xi măng.

Sáng ngày 27/11, tại Hội nghị đối thoại về chính sách và thủ tục hành chính thuế và hải quan năm 2017, Ông Vũ Ngọc Anh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan cho biết đã trình Chính phủ sửa đổi bổ sung nội dung này trong Nghị định 100 để tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp.

Theo quy định tại Nghị định 100/2016/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2016, sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác; hàng hóa được chế biến từ tài nguyên khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản xuất sản phẩm trở lên thì không được áp dụng thuế suất 0% khi xuất khẩu.

[caption id="attachment_75768" align="aligncenter" width="640"] Nhiều ý kiến của các doanh nghiệp đã được gửi tới đại diện Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan trong buổi Hội nghị ngày 27/11[/caption]

Quy định này thể hiện quan điểm không khuyến khích xuất khẩu tài nguyên chưa chế biến sâu. Nhưng việc thực hiện lại gặp vướng mắc khi xác định tỷ lệ 51% và có nhiều sản phẩm được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản nhưng trong quy trình thì lại được chế biến thành sản phẩm khác trước khi trở thành sản phẩm xuất khẩu.

Trước ý kiến về vấn đề này tại Hội nghị, đại diện Tổng cục Hải Quan thừa nhận đây không phải vướng mắc của chỉ một vài doanh nghiệp. Một ví dụ điển hình được ông dẫn ra là sản phẩm xi măng xuất khẩu, vốn được nghiền từ clinker là sản phẩm khác được chế biến từ đá và thạch cao.

"Chúng tôi đã nhận được 16 ý kiến thành viên Chính phủ đồng tình với việc sửa đổi này. Cơ quan đang tiếp tục thực hiện giải trình để ký ban hành", ông Ngọc Anh cho hay.

Theo ông, dự thảo sửa đổi Nghị định này dự kiến sẽ có 2 trường hợp ngoại lệ được áp dụng thuế xuất khẩu 0%, trong đó có các sản phẩm xuất khẩu tương tự trường hợp của xi măng.

Ngoài ra, Dự thảo còn quy định chi phí trực tiếp, gián tiếp sẽ không gồm chi phí vận chuyển từ nơi khai thác đến nơi chế biến. Ông Ngọc Anh dẫn ra ví dụ chi phí vận chuyển một khối đá từ bãi đá có thể tương đương hoặc lớn hơn giá mua khối đá này. Do vậy, chi phí tài nguyên khoáng sản sẽ không bao gồm chi phí vận chuyển.

Trước đó, kể từ khi Nghị định 100/2016/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2016, ngành xi măng xuất khẩu đã chịu ảnh hưởng. Năm 2016, Việt Nam đã xuất khẩu được khoảng 14,7 triệu tấn xi măng và clinker, đạt giá trị 561 triệu đô la Mỹ. So với năm 2015, lượng xuất khẩu xi măng và clinker năm 2016 giảm 7,1% và trị giá giảm 16%. Theo một tính toán, chi phí xuất khẩu của các doanh nghiệp xi măng trong nước đã tăng thêm khoảng 4,5 USD/tấn clinker và 7,5 USD/tấn xi măng.

"Sản phẩm xuất khẩu chế biến trực tiếp từ nguyên liệu chính có tổng giá trị tài nguyên khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản xuất sản phẩm trở lên được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản khi xuất khẩu thì thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT trừ hai trường hợp:

Thứ nhất, sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ tài nguyên khoáng sản do cơ sở kinh doanh trực tiếp khai thác hoặc mua về để chế biến hoặc thuê cơ sở khác để chế biến mà trong quy trình chế biến đã thành sản phẩm khác rồi tiếp tục chế biến thành sản phẩm xuất khẩu, có thể khép kín hoặc từng công đoạn thì thuộc đối tượng 0% nếu đáp ứng điều c 2 Luật thuế GTGT (có hợp đồng thực tế xuất khẩu, thanh toán qua ngân hàng).

Thứ hai, sản phẩm kinh doanh được chế biến từ nguyên liệu chính không phải tài nguyên khoáng sản do CSKD mua về để chế biến hoặc thuê cơ sở khác để chế biến thành sản phẩm xuất khẩu thì sản phẩm xuất khẩu thuộc đối tượng chịu thuế 0%."

Ông Vũ Ngọc Anh trích dẫn Dự thảo sửa đổi NĐ 100 tại Hội nghị đối thoại.

Theo Thanh Thủy Người đồng hành

Tags:

“Chìa khóa” thúc đẩy điện gió ngoài khơi

Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng nhanh và dư địa năng lượng truyền thống dần thu hẹp, dù được kỳ vọng trở thành trụ cột mới, tuy nhiên, việc phát triển điện gió ngoài khơi vẫn còn đó những tồn tại.

Tăng tốc hút vốn tư nhân cho kinh tế số

Theo báo cáo thường niên của Google, Temasek và Bain & Company, vốn tư nhân đầu tư vào nền kinh tế số Đông Nam Á trong 6 tháng đầu năm 2025 đạt 7,7 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước.

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm phát: Mục tiêu kép phải đạt được

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đã và đang theo đuổi những mục tiêu được đánh giá là “đầy tham vọng”: trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và đạt phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050. Điều này cho thấy quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam gắn chặt với bài toán khí hậu.

Sẵn sàng cho chu kỳ tăng trưởng mới

Bước sang năm 2026 – năm bản lề khởi đầu chu kỳ tăng trưởng mới giai đoạn 2026–2030, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng bền vững, dựa trên năng suất, khoa học – công nghệ và chất lượng thể chế, qua đó tạo nền tảng hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Xuất khẩu thuỷ sản tái cấu trúc năm 2026

Mặc dù ghi nhận những cú bật trong khó khăn của năm 2025, thủy sản Việt Nam hướng tới 2026 thận trọng bởi các yếu tố chu kỳ của thị trường, chuyển dịch cơ cấu thị trường và sản phẩm.

Phát huy vai trò nòng cốt, trụ cột phát triển kinh tế của ngành Công Thương trong kỷ nguyên mới

Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Phan Thị Thắng - Thứ trưởng Bộ Công Thương - đã trả lời phỏng vấn báo chí, làm rõ vai trò nòng cốt, trụ cột của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cũng như những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.

Video