Quản trị rủi ro trong xuất khẩu

Năm 2025, xuất khẩu hàng hoá đặt mục tiêu tăng trưởng 12% trong bối cảnh nhiều chính sách thuế quan mới được thực thi, dự báo sẽ định hình lại thương mại toàn cầu.
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Thường Lạng - Giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế quốc dân).

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Thường Lạng - Giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế quốc dân) nhấn mạnh: với những hàng rào kỹ thuật, hàng rào thương mại và biện pháp phòng vệ được tăng cường như hiện nay, xuất khẩu của Việt Nam chắc chắn sẽ đối mặt với khó khăn nhất định.

Nhiều ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đang chịu áp lực nặng nề khi những thay đổi trong chính sách thuế của Mỹ - thị trường xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam chính thức có hiệu lực từ giữa tháng 3, thưa ông?

Những thay đổi chính sách thuế cùng với việc gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại “ngặt nghèo” của Mỹ được nhận định sẽ ảnh hưởng chung đến thương mại toàn cầu. Là nền kinh tế có độ mở lớn và cũng là một trong những quốc gia có thặng dư thương mại lớn với Mỹ, khó khăn chắc chắn là có. Song, ở thời điểm này, các ngành hàng xuất khẩu chủ lực chưa bị áp thuế, tạo cơ hội để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Mỹ, nhất là với các mặt hàng thị trường Mỹ có nhu cầu tiêu dùng lớn nhưng năng sản xuất trong nước chưa thể đáp ứng được ngay.

Ở khía cạnh khác, chính sách thuế mới của Mỹ góp phần tạo môi trường cạnh tranh công bằng cho các nhà xuất khẩu, bao gồm một số ngành hàng trọng điểm của Việt Nam như nhôm, thép; mở ra cơ hội gia tăng xuất khẩu cho nhà sản xuất trong nước có lợi thế sản phẩm chất lượng, giá thành cạnh tranh.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 64,27 tỷ USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn: Cục Thống kê

- Như ông chia sẻ, với độ mở tới 200%, doanh nghiệp và nền kinh tế Việt dễ chịu rủi ro và tác động từ những bất định, thưa ông?

Đúng vậy. Để hạn chế rủi ro, thách thức, trước mắt doanh nghiệp cần theo dõi sát diễn biến thương mại và chính sách thuế của Mỹ để điều chỉnh chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp. Đặc biệt, chú trọng sử dụng nguyên liệu sản xuất trongnước hoặc từ các thị trường không bị Mỹ áp thuế hoặc các biện pháp phòng vệ thương mại nhằm tránh nguy cơ bị điều tra xuất xứ hoặc lẩn tránh thuế quan.

Về lâu dài, với các chính sách thương mại mới theo hướng bổ sung thêm hàng rào, mở rộng diện áp thuế với nhiều mặt hàng, dự báo xuất khẩu sang Mỹ đối mặt nhiều nguy cơ, biến động, các doanh nghiệp phải chuẩn bị xúc tiến xuất khẩu để đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu, tập trung mạnh vào các thị trường mà Việt Nam đã ký kết hiệp định thương mại tự do.

Các tổ chức tài chính lớn trên thế giới đều nhận định, dù còn một số thách thức tồn tại, thương mại toàn cầu đang phục hồi và phát triển. Cơ hội để đưa hàng hoá Việt Nam đến các thị trường mới tiềm năng mới như Trung Đông, châu Phi, Halal… là rất lớn.

Đồng thời, bám sát thị trường châu Âu (EU), châu Á… để tiếp tục được khai thác sâu, tăng thị phần xuất khẩu. Chẳng hạn, thị trường lớn EU tuy đang có nhiều quy định, hàng rào kỹ thuật liên quan đến sản xuất và tiêu dùng xanh nhưng một số chính sách trong giai đoạn đầu thực hiện hoặc thử nghiệm.

Với khả năng linh hoạt và thích nghi cao, thời gian qua, không ít doanh nghiệp Việt Nam đã xoay chuyển, ứng phó, xây dựng chiến lược đón đầu thông qua việc phát triển các dòng sản phẩm hữu cơ, phát thải thấp, bảo vệ sức khoẻ…

Tuy nhiên, để tăng thị phần và giá trị xuất khẩu, ngoài nỗ lực của doanh nghiệp, cần sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý nhà nước thông qua các chương trình xúc tiến thương mại. Các hoạt động này cần thay đổi gắn với những bất định trong điều kiện mới. Xúc tiến xuất khẩu cần đi sâu vào chất lượng, cụ thể hoá và chi tiết đến từng thị trường gắn với những tiêu chuẩn mang tính chất đặc thù để có giải pháp thích ứng một cách thông minh. Gắn liền với đó là tổ chức sản xuất, phát triển nguồn hàng chất lượng cao và ổn định ở trong nước. Giải pháp này cho phép kết nối nền kinh tế với chuỗi giá trị mới, nguồn cung mới bền vững hơn.

Ông vừa đề cập đến các thị trường mới tiềm năng như Trung Đông, châu Phi nhưng không ít doanh nghiệp e ngại tiếp cận do lo sợ những rủi ro liên quan đến thanh toán, thưa ông?

Thực tế đúng là những thị trường trên tiềm ẩn nhiều rủi ro mang tính chất lừa đảo. Thế nhưng, né tránh không phải là giải pháp hay, thay vào đó, doanh nghiệp có thể tìm cách thức thâm nhập vào thị trường rủi ro bằng cách phân tán và phòng ngừa rủi ro. Để quản trị rủi ro bài bản và hiệu quả ở thị trường mới, đặc biệt liên quan đến hệ thống thanh toán, không nên để doanh nghiệp đi một mình mà rất cần sự vào cuộc của các cơ quan quản lý.

Trong đó, hệ thống ngân hàng vừa đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp vừa thúc đẩy hợp tác, cam kết chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam và các quốc gia trên đảm bảo cho hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, cần có sự kết nối bảo lãnh của các tổ chức quốc tế có liên quan đến một số mặt hàng xuất khẩu sang các thị trường đặc thù này.

Như tôi vừa nói ở trên, trong điều kiện thương mại toàn cầu thay đổi, việc đa dạng thị trường xuất khẩu đạt hiệu quả và thành công khi gắn liền với các hoạt động xúc tiến được cụ thể hoá, xem xét đến các yếu tố đặc thù để có giải pháp thích ứng phù hợp. Về phía doanh nghiệp, kinh nghiệm “nằm lòng” là phải lựa chọn đối tác một cách rất thận trọng.

- Trân trọng cảm ơn ông!

 

Theo Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp

Phát triển hạ tầng chiến lược: Động lực cho chu kỳ tăng trưởng mới

Trong tiến trình phát triển của các nền kinh tế hiện đại, hạ tầng luôn được xem là nền tảng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối với Việt Nam, khi bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, yêu cầu về một hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại càng trở nên cấp thiết. Không chỉ dừng ở giao thông hay đô thị, hạ tầng ngày nay còn bao gồm logistics, năng lượng, công nghệ số và các dịch vụ công thiết yếu - những yếu tố cấu thành nền tảng vận hành của nền kinh tế.

Kịch bản để tăng trưởng kinh tế cán mốc 2 con số

Để đạt mục tiêu tăng trưởng năm 2026, các quý tiếp theo phải ghi nhận mức tăng trên 10,5%. Điều này đòi hỏi sự đồng bộ trong điều hành chính sách và kích hoạt các động lực tăng trưởng mới.

Ngành dược năm 2026: Khi "cuộc đua doanh số" nhường chỗ cho giá trị bền vững

Bước sang năm 2026, thị trường dược phẩm Việt Nam không chỉ chứng kiến sự bùng nổ về quy mô mà còn đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tư duy quản trị. Thay vì chạy theo tăng trưởng nóng bằng mọi giá, các doanh nghiệp đầu ngành đang chuyển mình mạnh mẽ sang mô hình phát triển chiều sâu, lấy tiêu chuẩn chất lượng quốc tế và năng lực số hóa làm "hàng rào" cạnh tranh.

Biến nợ xấu thành nguồn lực cho phát triển

Trong bối cảnh mới, nợ xấu không còn là vấn đề riêng của hệ thống ngân hàng, mà là một yếu tố có tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô và khả năng huy động, phân bổ nguồn lực của nền kinh tế. Nếu không được xử lý hiệu quả, nợ xấu sẽ trở thành điểm nghẽn của tăng trưởng, nhưng nếu được xử lý đúng cách, nợ xấu hoàn toàn có thể trở thành nguồn lực cho phát triển. Đó là ý kiến được trao đổi tại Toạ đàm “Nợ xấu trong bối cảnh mới” do Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức chiều 15/4. Tọa đàm có hơn 200 đại biểu tham dự trực tiếp, cùng trên 100 đại biểu theo dõi trực tuyến.

Video