Qatar là thị trường nhập khẩu khí đốt hoá lỏng lớn nhất của Việt Nam

Việt Nam đã nhập khẩu 321,903 tấn khí đốt hóa lỏng từ thị trường Qatar, tương đương gần 193,13 triệu USD, trị giá đạt 599,96 USD/tấn.

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tháng 6/2024, cả nước nhập khẩu 292,836 tấn khí đốt hóa lỏng (khí gas), tương đương gần 183,44 triệu USD, giá trung bình 626,4 USD/tấn, tăng 7,26% về lượng, tăng 8,09% về kim ngạch và tăng 0,77% về giá so với tháng 5/2024.

Tính chung trong 6 tháng đầu năm 2024, cả nước nhập khẩu trên 1,56 triệu tấn khí đốt hóa lỏng, trị giá gần 1,01 tỷ USD, giá trung bình đạt 644,75 USD/tấn, tăng 35,84% về lượng và tăng 34,25% kim ngạch nhưng giảm 1,17% về giá so với cùng kỳ năm 2023.

Qatar hiện là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam. Trong 6 tháng đầu năm 2024, thị trường này đã cung cấp 321,903 tấn khí đốt hóa lỏng cho Việt Nam, tương đương gần 193,13 triệu USD, trị giá đạt 599,96 USD/tấn, tăng mạnh 250,49% về lượng, tăng 214,09% về kim ngạch so với cùng kỳ, chiếm 20,6% trong tổng lượng và chiếm 19,17% trong tổng kim ngạch nhập khẩu khí đốt hóa lỏng của cả nước.

Tháng 6/2024, nhập khẩu từ thị trường này đạt 44,200 tấn, tương đương gần 27,16 triệu USD, giá 614,42 USD/tấn, tăng 5,48% về lượng nhưng giảm 1,8% về kim ngạch so với tháng 5/2024 và giá giảm 6,91%; trong tháng 6/2023 nước ta không nhập khẩu khí đốt hóa lỏng từ thị trường này.

Malaysia là thị trường lớn thứ 2, với lượng nhập khẩu 241,683 tấn, tương đương gần 157,77 triệu USD, giá nhập khẩu 652,8 USD/tấn, tăng mạnh 311,91% về lượng, tăng 312,91% về kim ngạch và tăng nhẹ 0,24% về giá so với 6 tháng đầu năm 2023, chiếm 15,47% trong tổng lượng và chiếm 15,66% trong tổng kim ngạch.

Việt Nam đã nhập khẩu 321,903 tấn khí đốt hóa lỏng từ thị trường Qatar, tương đương gần 193,13 triệu USD, trị giá đạt 599,96 USD/tấn

Tiếp theo là thị trường Saudi Arabia đạt 187,428 tấn, trị giá gần 125,44 triệu USD, giá 669,26 USD/tấn, giảm 47,24% về lượng, giảm 44,8% về kim ngạch nhưng tăng 4,64% về giá so với 6 tháng đầu năm 2023, chiếm 12% trong tổng lượng và chiếm 12,45% tổng kim ngạch nhập khẩu khí đốt hóa lỏng của cả nước.

Hiện nay, LPG ở Việt Nam được sử dụng chủ yếu cho dân dụng hoặc cho ngành công nghiệp (công nghiệp xử lý thực phẩm, làm giấy, hạt nhựa, chất nổ, chất làm lạnh…), các ứng dụng khác từ sản phẩm LPG hiện còn thấp như sử dụng LPG trong công nghệ hóa dầu. Điều này dẫn đến quy mô hệ thống kho cảng LPG chủ yếu là kho cảng nhỏ, năng lực nhập hàng từ các tàu có trọng tải lớn còn hạn chế.

Về sản xuất LPG trong nước: Nhà máy GPP Dinh Cố và Nhà máy Lọc dầu Dung Quất với sản lượng khoảng 750.000 tấn/năm, chiếm khoảng 45% nhu cầu LPG của Việt Nam.

Theo Hiệp hội Gas Việt Nam, thực trạng nguồn cung khí nội địa đang suy giảm (còn 7 tỷ m3 vào năm 2025), nhu cầu ngày càng tăng cao lên đến hơn 20 tỷ m3 vào năm 2030. Vì vậy, nhập khẩu khí LNG là xu hướng tất yếu để phục vụ nhu cầu của thị trường. Theo đánh giá, sau gần 20 năm khai thác (từ năm 2018), các nguồn khí trong nước sẽ suy giảm dần, trong khi nguồn khí bổ sung từ các mỏ mới tại các khu vực có nguồn khí suy giảm không nhiều.

Dự kiến, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ LPG trong nước, cơ sở hạ tầng tồn trữ của các kho LPG phải đạt quy mô khoảng 3,5 - 4 triệu tấn/năm vào năm 2025 và khoảng 4,5 - 5 triệu tấn/năm vào năm 2035, đảm bảo đáp ứng yêu cầu dự trữ tối thiểu đạt trên 15 ngày cung cấp.

Trong tháng 7, giá gas bán lẻ trong nước vẫn giữ ổn định như mức giá của tháng 6 theo diễn biến của giá gas thế giới. Cụ thể, giá gas bình Petrolimex bán lẻ (đã bao gồm VAT) tháng 7/2024 tại thị trường Hà Nội là 445.500 đồng/bình dân dụng 12 kg; 1.782.000 đồng/bình công nghiệp 48 kg, không thay đổi so với giá tháng 6. Như vậy, tính từ đầu năm đến nay, giá gas trong nước có 3 lần tăng, 3 lần giảm giá và 1 lần không thay đổi.

 

Theo Công Thương

Xuất khẩu thuỷ sản tái cấu trúc năm 2026

Mặc dù ghi nhận những cú bật trong khó khăn của năm 2025, thủy sản Việt Nam hướng tới 2026 thận trọng bởi các yếu tố chu kỳ của thị trường, chuyển dịch cơ cấu thị trường và sản phẩm.

Phát huy vai trò nòng cốt, trụ cột phát triển kinh tế của ngành Công Thương trong kỷ nguyên mới

Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Phan Thị Thắng - Thứ trưởng Bộ Công Thương - đã trả lời phỏng vấn báo chí, làm rõ vai trò nòng cốt, trụ cột của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cũng như những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.

Xuất khẩu gạo đầu năm 2026: Thời cơ đã đến nhưng cạnh tranh khốc liệt hơn

Thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam bước vào đầu năm 2026 với nhiều tín hiệu tích cực khi Philippines là một trong những khách hàng lớn nhất dự kiến mở lại nhập khẩu sau giai đoạn điều tiết nguồn cung trong nước. Tuy nhiên, đi kèm với việc mở cửa là chính sách tăng thuế nhập khẩu, khiến bức tranh thị trường không chỉ có gam sáng mà còn đan xen nhiều thách thức, đặc biệt là áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Chuẩn hóa phân loại đô thị, đưa công nhận loại đô thị trở thành công cụ quản lý và điều tiết phát triển bền vững

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội vừa thông qua Nghị quyết về phân loại đô thị, quy định hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn và cơ chế tổ chức thực hiện việc phân loại, công nhận loại đô thị trên phạm vi cả nước. Nghị quyết đặt mục tiêu chuẩn hóa toàn diện phương pháp phân loại đô thị, gắn chặt việc công nhận loại đô thị với quy hoạch, chương trình phát triển đô thị và trách nhiệm thực thi của chính quyền địa phương, qua đó đưa phân loại đô thị trở thành một công cụ quản lý nhà nước thực chất, phục vụ điều tiết đầu tư và phát triển đô thị bền vững.

Video