Nền tảng mới cho phát triển kinh tế biển bền vững
![]() |
| Thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động kinh tế biển theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn |
Xác định dư địa tăng trưởng mới
Biển không chỉ là nguồn tài nguyên lớn mà còn là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đơn cử, tỉnh Ninh Bình đặt mục tiêu đưa tỷ trọng kinh tế biển và ven biển đạt hơn 20% GRDP vào năm 2030. Tỉnh xác định hướng đi mới trong nuôi trồng thủy hải sản công nghệ cao, chế biến sâu, phát triển thương hiệu OCOP, đầu tư hạ tầng cảng cá, logistics, đẩy mạnh du lịch trải nghiệm biển, hướng đến mô hình kinh tế biển hiện đại, bền vững. Chỉ tính riêng tại xã Kim Đông - vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi với bãi triều rộng, độ mặn ổn định, từ lâu đã trở thành khu vực nuôi trồng thủy sản trọng điểm của tỉnh với hơn 5.500 ha, cung ứng ra thị trường gần 300.000 tấn sản phẩm, mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân. Ninh Bình còn có hơn 1.800 tàu thuyền thường xuyên ra khơi khai thác, tạo nguồn nguyên liệu phong phú cho ngành chế biến thủy, hải sản; hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư, nhất là giao thông, thủy lợi, khu, cụm công nghiệp, nhiều dự án lớn đã và đang được triển khai thực hiện góp phần nâng cao vị thế địa kinh tế, tạo diện mạo mới cho vùng ven biển.
Trong khi đó, nhờ có biển, Đặc khu Vân Đồn sở hữu lợi thế là một trọng điểm về du lịch, dịch vụ và kinh tế biển của tỉnh Quảng Ninh với thu nhập bình quân đầu người năm 2025 đạt 120 triệu đồng, gấp 8,7 lần so với năm 2010; tổng nguồn vốn đầu tư về đặc khu đạt trên 40.000 tỷ đồng, trong đó có hơn 37.000 tỷ đồng ngoài ngân sách. Không những thế, Đại hội đại biểu Đảng bộ đặc khu Vân Đồn lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 còn xác định xây dựng đặc khu Vân Đồn với thể chế hiện đại, cơ chế, chính sách vượt trội, mang đẳng cấp quốc tế; hiện thực hóa tầm nhìn phát triển thành trung tâm kinh tế biển đa ngành, xanh, hiện đại, thông minh, trở thành một cực tăng trưởng chiến lược của tỉnh.
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh, biển, đảo Việt Nam không chỉ là một bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc mà còn là môi trường sinh tồn, phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam. Bởi không gian biển lớn gấp 3 lần đất liền, các địa phương có biển phải đẩy mạnh khai thác tiềm năng biển tạo dư địa để góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn tới. Việc khai thác tiềm năng kinh tế biển, làm giàu từ biển, vươn khơi bám biển cũng là cách để chúng ta giữ biển, giữ chủ quyền quốc gia.
Hoàn thiện chính sách, nâng tầm phát triển
Tuy nhiên, theo đánh giá từ các chuyên gia, phát triển kinh tế biển còn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế, nhất là với không gian phát triển mới của một số địa phương sau sáp nhập. Nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế do nguồn lực đầu tư còn nhiều hạn chế; tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai gây thiệt hại lớn đến kinh tế và đời sống của nhân dân khu vực ven biển... Những điều này đặt ra yêu cầu mới, cấp thiết đối với phát triển kinh tế biển trong tình hình hiện nay.
Trong giai đoạn tới, ông Nguyễn Thanh Nghị cho biết, các nhiệm vụ trọng tâm được xác định bao gồm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước và tập trung mọi nguồn lực cho kinh tế biển. Đặc biệt, việc đẩy mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số (Nghị quyết 57-NQ/TW) và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao được xem là những yếu tố then chốt. Các Bộ, ngành và địa phương tiếp tục phối hợp chặt chẽ, cung cấp dữ liệu đầy đủ cho Ban Chính sách, chiến lược Trung ương để hoàn thiện đề án trình Bộ Chính trị, đảm bảo thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển bền vững kinh tế biển mà Nghị quyết đã đề ra.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và suy giảm tài nguyên, việc chuyển đổi sang mô hình kinh tế biển xanh đang được xem là hướng đi tất yếu để đảm bảo phát triển bền vững. Định hướng phát triển kinh tế biển bền vững tại Việt Nam đã được xác định rõ trong nhiều chiến lược và chính sách quốc gia. Nổi bật là Nghị quyết số 36-NQ/TW về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030, tầm nhìn 2045; Nghị quyết số 139/2024/ QH15 về quy hoạch không gian biển quốc gia giai đoạn 2021-2030; cùng với Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030. Những chính sách này tạo nền tảng quan trọng cho việc thúc đẩy các mô hình phát triển kinh tế biển xanh.
Để thúc đẩy phát triển các mô hình kinh tế biển xanh trong thời gian tới, các chuyên gia cho rằng cần tập trung hoàn thiện khung chính sách và hành lang pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và địa phương triển khai các dự án. Cùng với đó, cần phát triển các cơ chế tài chính xanh như quỹ đầu tư xanh, trái phiếu xanh và các hình thức hợp tác công – tư (PPP) để huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân và các tổ chức quốc tế. Bên cạnh giải pháp về chính sách và tài chính, việc tăng cường nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế biển xanh.
Cùng với đó, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Xuân Sang còn chỉ ra rằng, các hoạt động hàng hải và đường thủy nội địa hiện không còn tách rời mà ngày càng gắn bó chặt chẽ với công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển. Sự giao thoa này đòi hỏi một cơ chế phối hợp đủ mạnh để bảo đảm các quyết định quản lý được triển khai đồng bộ, tránh tình trạng chồng chéo hoặc xử lý thiếu nhất quán giữa các cơ quan. Các đơn vị trực thuộc chủ động phối hợp ngay từ khâu xây dựng kế hoạch, dự án, đặc biệt trong các lĩnh vực trọng điểm như phát triển hạ tầng hàng hải, quản lý luồng tuyến, cảng biển và khai thác không gian biển.
Liên thông và quản trị bằng dữ liệu
Để giải quyết những chồng chéo về quy hoạch và luồng lạch, đặc biệt là khi thực hiện các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, ông Đặng Ngọc Điệp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Bộ sẽ hướng tới xây dựng cơ chế “thủ tục liên thông một cửa”, kết hợp việc đánh giá tác động môi trường, nhận chìm và giao khu vực biển trong một đầu mối xử lý duy nhất. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông giữa các cơ quan sẽ giúp tăng cường tính minh bạch, nâng cao hiệu quả quản lý, đồng thời giảm thiểu thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp trong tiếp cận dịch vụ công. Đồng thời, hoàn thiện chính sách mục tiêu là khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của biển Việt Nam, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội gắn với quy hoạch tổng thể quốc gia. Song song với đó, chuyển đổi số và kết nối, chia sẻ dữ liệu được xác định là một trong những trụ cột then chốt.
Trên cơ sở đó, Cục Biển và Hải đảo Việt Nam khẳng định, chuyển đổi số trong quản lý biển đang mở ra phương thức giám sát hiện đại, từ hệ thống dữ liệu quốc gia về biển đến các công nghệ quan trắc từ xa. Công nghệ giúp quản trị minh bạch hơn, phản ứng nhanh hơn trước các sự cố môi trường và giảm chi phí quản lý. Bên cạnh đó, năm 2026 được xem là thời điểm bản lề để triển khai đồng bộ các chính sách và quy hoạch đã chuẩn bị trong thời gian qua. Từ hoàn thiện luật pháp, đẩy mạnh phân cấp quản lý đến tăng cường phối hợp giữa trung ương và địa phương, tất cả đều hướng tới mục tiêu chung khai thác hiệu quả nhưng bền vững không gian biển.
Các chuyên gia chỉ rõ kinh tế biển có 6 thành tố chính gồm: kinh tế hàng hải, du lịch, dầu khí, thủy sản, logistics và kinh tế thềm lục địa. Vấn đề biển và hải đảo cũng được quy định trong nhiều luật như: Luật Địa chất khoáng sản, Luật Du lịch, Luật Dầu khí, Luật Hàng hải, Luật Đầu tư, Luật Biển, Luật Tài nguyên Môi trường Biển và Hải đảo… Từ sự liên kết này, ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam khẳng định, việc hoàn thiện thể chế chính là điều kiện tiên quyết để kinh tế biển phát triển đúng hướng. Luật pháp không chỉ để quản lý mà còn để khơi thông nguồn lực, tạo niềm tin cho nhà đầu tư và các địa phương khi triển khai các dự án kinh tế biển quy mô lớn. Khi luật pháp minh bạch, thủ tục rõ ràng, doanh nghiệp mới dám đầu tư dài hạn vào các dự án ngoài khơi có vốn lớn và rủi ro cao. Một hành lang pháp lý ổn định chính là “la bàn” để kinh tế biển đi đúng hướng và phát triển bền vững.














