Hiểu lầm lớn nhất của Việt Nam về TPP và các FTA là gì?

Trên thực tế, TPP và các FTA không hề giúp cho xuất khẩu của Việt Nam tăng lên, nếu vẫn ở trong tình trạng hiện tại.

[caption id="attachment_12734" align="aligncenter" width="600"]Ảnh minh họa từ Internet Ảnh minh họa từ Internet[/caption]

Được đánh giá là thời điểm mang tính quyết định đối với nền kinh tế Việt Nam trong những năm sắp tới, năm 2016 vì thế đang đem lại nhiều kỳ vọng lớn cho chính phủ cũng như các bộ phận trong nền kinh tế đất nước.

Việc một loạt các hiệp định thương mại quan trọng nhiều khả năng sẽ được ký kết ngay trong năm nay như TPP hay FTA Việt Nam - EU, đang mở ra những cơ hội lớn cho tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất khẩu vốn được xem là mũi nhọn của nền kinh tế.

Nhưng ngay ở trong vấn đề được kỳ vọng nhất này, có vẻ như chúng ta cũng đang gặp phải một sự hiểu lầm lớn, đó là không phải cứ ký kết nhiều hiệp định thương mại thì xuất khẩu chắc chắn sẽ tăng lên đáng kể. Trên thực tế, TPP và các FTA không hề giúp cho xuất khẩu của Việt Nam tăng lên, nếu vẫn ở trong tình trạng hiện tại.

Tham gia và ký kết các hiệp định thương mại lớn như TPP và các FTA nhưng lại không giúp gia tăng xuất khẩu? Thoạt nghe thì có vẻ lạ lùng, nhưng đó lại là sự thật.

Đúng là các hiệp định thương mại mà Việt Nam đã, đang và sắp ký kết hầu hết đều có tác dụng “thúc đẩy và kích thích thương mại”, nhưng nó vẫn chỉ là “thúc đẩy” và “kích thích” mà thôi, chứ không phải là “chắc chắn sẽ giúp tăng cường thương mại”. Điều đó có nghĩa là để có thể tận dụng được khả năng thúc đẩy và kích thích thương mại của các hiệp định thương mại này, Việt Nam cần phải tạo ra những điều kiện thích hợp cho nền kinh tế để đủ sức đón nhận những kích thích đó, chứ không phải chỉ ngồi không và chờ đợi cơ hội dâng đến tận nơi theo kiểu “há miệng chờ sung”.

Chúng ta có thể nhận thấy rõ thực tế này nếu nhìn qua các quy định cơ bản của những hiệp định thương mại quan trọng nhất mà Việt Nam vừa ký kết, như TPP hay các FTA Việt Nam - EU và FTA Việt Nam - Hàn Quốc.

Hầu hết các điều khoản quan trọng nhất đều chỉ hướng đến vấn đề giảm thuế xuất nhập khẩu cho hàng hóa giữa các quốc gia và nền kinh tế, chứ không hứa hẹn hay cam kết quốc gia này sẽ tăng cường nhập khẩu hàng hóa từ quốc gia kia. Chẳng hạn, các quy định quan trọng nhất của TPP và các FTA mà Việt Nam vừa ký kết, chủ yếu đều là quy định rõ lộ trình giảm thuế xuất nhập khẩu giữa các quốc gia trong hàng loạt các lĩnh vực, mà phần lớn sẽ chuyển dần về mức 0%, tạo thuận lợi tối đa cho trao đổi thương mại giữa các bên thông qua cắt giảm thuế.

Việc các dòng thuế xuất nhập khẩu phần lớn sẽ chuyển về mức 0% sẽ chỉ có ý nghĩa giá trị gia tăng từ hàng xuất khẩu của các quốc gia sẽ tăng lên, do không còn phải nộp thuế xuất nhập khẩu như trước, chứ không có nghĩa là lượng hàng hóa xuất khẩu sẽ gia tăng.

Như các quy định về giảm thuế trong lĩnh vực dệt may trong TPP, theo ước tính các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ tiết kiệm được khoảng 1,17 tỷ USD khi hầu hết các dòng thuế dệt may hiện nay của Mỹ trung bình khoảng 17% sẽ chuyển dần về mức 0% sau khi TPP đi vào hoạt động. Điều này có nghĩa là lợi nhuận của các doanh nghiệp dệt may sẽ tăng khoảng 1,17 tỷ USD hằng năm do không phải đóng khoản thuế này cho chính phủ Mỹ nữa, chứ không có nghĩa là tổng sản phẩm và kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may vào thị trường Mỹ sẽ tăng lên.

Trên thực tế, việc tăng lợi nhuận cũng không đồng nghĩa với việc giúp tăng cường sản lượng xuất khẩu. Các doanh nghiệp sau khi thuế nhập khẩu chuyển về 0% cũng sẽ không thể hạ bớt giá thành sản phẩm để tăng số lượng xuất khẩu để tận dụng mức thuế suất 0%, khi mà các điều luật chống bán phá giá vẫn còn nguyên tác dụng.

Về lý thuyết, việc tăng cường lợi nhuận sẽ chỉ giúp tăng sản lượng xuất khẩu về lâu dài, khi mà các doanh nghiệp sẽ có thể đầu tư nhiều hơn vào quy trình sản xuất để nâng chất lượng sản phẩm đồng thời hạ giá thành giúp hàng hóa xuất khẩu cạnh tranh tốt hơn, qua đó nâng cao số lượng xuất khẩu vào thị trường bên ngoài.

Còn trong ngắn hạn, thậm chí các hiệp định thương mại còn có thể khiến cho sản lượng xuất khẩu giảm đi đáng kể. Vì song song với lộ trình giảm dần thuế xuất nhập khẩu về 0%, các quốc gia cũng đồng thời tăng cường dựng lên các rào cản kỹ thuật và thương mại để xiết chặt hơn hàng hóa nhập khẩu về các vấn đề như chất lượng hay giá cả.

Điều đáng chú ý là các quy định của TPP và các FTA hầu hết đều không giúp Việt Nam loại bỏ khả năng bị kiện về các vấn đề quen thuộc mà Mỹ, Canada hay EU vẫn sử dụng như bán phá giá, hay hàng hóa vi phạm quy định về chất lượng. Vì hầu hết các điều luật về chống bán phá giá và việc dựng lên các rào cản kỹ thuật đều không hề giảm bớt chút nào trong các quy định của TPP và các FTA.

Vì thế, lợi ích về tăng cường xuất khẩu mà TPP và các FTA đem lại cho Việt Nam chỉ đúng khi chúng ta nâng cao khả năng cạnh tranh bằng cách nâng chất lượng hàng hóa và giảm giá thành sản phẩm, để có thể tận dụng tốt các quy định về thúc đẩy và kích thích thương mại mà các hiệp định thương mại này đem lại.

Còn nếu vẫn giữ nguyên tình trạng chất lượng và giá cả hiện tại, không những xuất khẩu không tăng mà còn giảm đi. Đã có những dấu hiệu dự báo trước cho nguy cơ này, với việc hàng loạt lĩnh vực xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam đang giảm dần về số lượng trong vài năm trở lại đây do các rào cản thương mại ngày càng tăng lên, trong khi chất lượng và giá cả hàng xuất khẩu của Việt Nam không được cải thiện.

Ví dụ như nhóm ngành nông lâm thủy sản. Tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm ngành này trong năm 2015 khoảng 20,6 tỷ USD, giảm 6,7% so với cùng kỳ năm trước, gây hụt thu khoảng 4,65 tỷ USD. Điều này cũng được dự báo cho cả những lĩnh vực xuất khẩu quan trọng như dệt may, khi các quy định về xác định xuất xứ từ sợi trở đi cũng đang đe dọa sản lượng xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam với hơn 60% lượng sợi và nguyên liệu ngành dệt hiện nay là nhập từ Trung Quốc.

Nói cách khác, tác dụng thúc đẩy tăng cường trao đổi thương mại của các hiệp định thương mại như TPP và các FTA chủ yếu là những tác động mang tính gián tiếp, thông qua việc khuyến khích các quốc gia tăng cường đầu tư để giảm giá thành và tăng chất lượng sản phẩm, chứ không phải là những tác động trực tiếp theo kiểu cứ gia nhập hiệp định là sản lượng xuất khẩu tức khắc sẽ tăng lên mà không cần đầu tư và đổi mới.

Các hiệp định thương mại, vì thế đang gần như là một con dao hai lưỡi đối với lĩnh vực xuất khẩu, nếu biết cách cầm nó sẽ đem lại những lợi ích lớn, nhưng nếu không biết cách nó có thể đem lại những hệ quả khôn lường.

Theo Một thế giới

Tags:

Thương mại điện tử đạt 31 tỉ USD

Quy mô thương mại điện tử (TMĐT) cán mốc 31 tỉ USD đã đưa Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng TMĐT nhanh nhất toàn cầu. TMĐT đang trở thành trụ cột của kinh tế số, góp phần quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững của Việt Nam trong giai đoạn 2026-2030.

TP. Hồ Chí Minh tiếp tục dẫn đầu cả nước về thu hút FDI

Theo Sở Tài chính TP. Hồ Chí Minh, tính đến ngày 31/12/2025, tổng giá trị vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký trên địa bàn thành phố, bao gồm cấp mới, điều chỉnh tăng vốn và góp vốn, mua cổ phần, mua lại phần vốn góp, ước đạt gần 8,37 tỷ USD. Con số này tăng 19% về số lượt đầu tư và tăng 24,2% về tổng vốn đầu tư so với cùng kỳ năm 2024.

Động lực thúc đẩy điện gió ngoài khơi bứt phá

Nghị quyết về cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030 vừa được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10 đem đến kỳ vọng sẽ là động lực thúc đẩy điện gió ngoài khơi bứt phá.

“Dòng chảy” M&A hướng đến giá trị cốt lõi

Trong năm 2025, nhiều thương vụ mua bán và sáp nhập (M&A) được dẫn dắt bởi các tập đoàn quốc tế, tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực quan trọng như năng lượng, y tế, công nghiệp chế biến chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao… Cụ thể, trong lĩnh vực sản xuất và công nghiệp, OCI Holdings (tập đoàn năng lượng và hóa chất Hàn Quốc), thông qua OCI ONE, một công ty con thuộc OCI TerraSus, đã mua 65% cổ phần của Elite Solar Power Wafer-nhà máy sản xuất tấm wafer cho pin mặt trời đang được xây dựng tại Việt Nam. Dự án có công suất giai đoạn đầu 2,7 GW, tổng mức đầu tư là 120 triệu USD, trong đó phần vốn của OCI ONE trị giá khoảng 78 triệu USD.

Video