Đổi mới mô hình phát triển cần bắt đầu từ cải cách thể chế

Theo TS Nguyễn Quốc Việt, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển từ đổi mới mô hình tăng trưởng sang xây dựng một mô hình phát triển tổng thể. Trong đó, cải cách thể chế phải là khâu đột phá để giải phóng nguồn lực, giảm chi phí cho doanh nghiệp và tạo ra những không gian tăng trưởng mới.

Nghị quyết 19-NQ/TW về “Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam” đặt ra yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao trong những năm tới.

Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Quốc Việt, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, về yêu cầu đổi mới mô hình phát triển trong giai đoạn mới.

TS. Nguyễn Quốc Việt Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội.

Bước chuyển mạnh mẽ trong tư duy phát triển

Nghị quyết 19-NQ/TW là lần đầu tiên Trung ương ban hành nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển. Ông có nhìn nhận như thế nào về sự kiện này?

TS Nguyễn Quốc Việt: Việc Trung ương ban hành nghị quyết chuyên đề về đổi mới mô hình phát triển cho thấy tư duy phát triển của Việt Nam đang có bước chuyển mạnh mẽ. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là đổi mới mô hình tăng trưởng thì nay yêu cầu đặt ra là xây dựng một mô hình phát triển tổng thể.

Tăng trưởng kinh tế phải gắn với nâng cao chất lượng phát triển, năng lực cạnh tranh và chất lượng cuộc sống của người dân. Sau gần 40 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã tích lũy được những tiền đề quan trọng. Quy mô nền kinh tế không ngừng mở rộng, năng lực hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, môi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện và Việt Nam đã được Ngân hàng Thế giới xếp vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao.

Đây là những thành quả tạo nên “thế” và “lực” mới để đất nước bước sang một giai đoạn phát triển cao hơn. Tuy nhiên, chính những thành tựu đó cũng đặt ra yêu cầu phải thay đổi mô hình phát triển. Động lực tăng trưởng của Việt Nam hiện vẫn chủ yếu dựa trên những lợi thế truyền thống như lao động chi phí thấp, khai thác tài nguyên và mở rộng đầu tư.

Trong khi đó, năng suất lao động, hàm lượng công nghệ và đổi mới sáng tạo vẫn chưa thực sự trở thành nền tảng của tăng trưởng. Đến nay, Việt Nam đã tham gia khá sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu và thu hút hiệu quả dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhưng mức độ làm chủ công nghệ còn hạn chế.

Sự liên kết giữa khu vực FDI và khu vực doanh nghiệp trong nước cũng chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa như kỳ vọng. Hệ quả là tăng trưởng của nền kinh tế chưa dựa nhiều vào năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) giá trị gia tăng nội địa còn thấp và nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình vẫn hiện hữu nếu Việt Nam không nhanh chóng hình thành những động lực tăng trưởng mới.

- Theo ông, đâu là khâu đột phá để Việt Nam có thể chuyển sang mô hình phát triển mới?

TS Nguyễn Quốc Việt: Tôi cho rằng cải cách thể chế là khâu đột phá quan trọng nhất để khơi thông mọi nguồn lực phát triển. Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước luôn xác định thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Thực tế, doanh nghiệp hiện nay vẫn phải gánh chịu nhiều loại chi phí phát sinh từ sự chồng chéo của các quy định pháp luật, thủ tục hành chính phức tạp cũng như những chi phí giao dịch không cần thiết. Mục tiêu giảm khoảng 30% chi phí tuân thủ pháp luật sẽ tạo thêm nguồn lực rất lớn cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất và nâng cao năng suất.

Cải cách thể chế không chỉ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp mà còn giúp chuyển mạnh phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Đây là điều kiện quan trọng để cả cơ quan quản lý và doanh nghiệp có đủ không gian đổi mới sáng tạo trước sự xuất hiện của những mô hình kinh doanh mới.

Các lĩnh vực như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, trí tuệ nhân tạo hay các ngành công nghệ mới đều cần một hệ thống thể chế linh hoạt hơn để tạo lập những “không gian tăng trưởng” mới. Nếu thể chế chậm đổi mới, chính nó sẽ trở thành lực cản đối với quá trình phát triển. Cải cách thể chế chính là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, giảm chi phí cho doanh nghiệp và tạo ra động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

- Vậy trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, Việt Nam cần tập trung vào những động lực nào để duy trì tăng trưởng?

TS Nguyễn Quốc Việt: Trong ngắn hạn, cần thúc đẩy động lực phát triển bền vững của nền kinh tế dựa trên các mô hình tăng trưởng mới và gắn với xu hướng thương mại, đầu tư toàn cầu; đồng thời, phải bảo đảm dư địa chính sách để điều chỉnh kinh tế vĩ mô, hỗ trợ hoạt động kinh tế trong nước và các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trước những rủi ro ngắn hạn.

Trong trung hạn, cần nâng cấp cơ sở hạ tầng, nâng cao trình độ và kỹ năng cho lực lượng lao động, đồng thời phát triển khoa học công nghệ nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh, thúc đẩy kinh doanh sáng tạo và bền vững.

Còn trong dài hạn, cần xây dựng chiến lược và thực hiện các chính sách phát triển có mục tiêu, có trọng tâm, trọng điểm. Cùng với đó là bảo đảm việc giải ngân đầu tư công một cách hiệu quả. Điều quan trọng là thị trường phải được vận hành hiệu quả hơn.

Muốn vậy, không nhất thiết phải ban hành thêm nhiều quy định hay gia tăng sự hiện diện của cơ quan quản lý, mà cần giảm bớt những can thiệp hành chính không cần thiết, qua đó tạo môi trường kinh doanh ổn định và dễ dự báo hơn cho doanh nghiệp và khiến doanh nghiệp yên tâm tập trung vào sản xuất kinh doanh, thay vì lo ngại về rủi ro chính sách.

- Như ông nói thì điều doanh nghiệp lo ngại nhất hiện nay chính là rủi ro về mặt chính sách. Ông có thể nói cụ thể về điều này?

TS Nguyễn Quốc Việt: Điều khiến doanh nghiệp và nhà đầu tư lo ngại hiện nay không hẳn là khó khăn của thị trường hay chi phí sản xuất, mà là cảm giác bất định đến từ những thay đổi chính sách khó lường và các can thiệp hành chính. Khi môi trường pháp lý thiếu ổn định, doanh nghiệp sẽ không còn cảm giác an toàn để đầu tư dài hạn.

Trong bối cảnh niềm tin suy giảm, doanh nghiệp thường có xu hướng thu hẹp hoạt động chính thức, “giấu” tài sản hoặc chuyển dòng tiền sang các kênh phòng thủ để bảo toàn năng lực kinh doanh.

Thực tế hiện nay, nhiều doanh nghiệp và người dân đang dịch chuyển dòng tiền khỏi hoạt động sản xuất kinh doanh để nắm giữ vàng hoặc các tài sản phòng thủ khác. Người ta “giấu doanh nghiệp đi, giấu hoạt động kinh doanh chính thức đi để chuyển tiền sang vàng”. Đó là biểu hiện cho thấy họ đang cố giữ tài sản để còn có thể kinh doanh được.

Ở góc độ nghiên cứu thể chế, tôi muốn đề cập tới chỉ số “risk of expropriation”, tức rủi ro bị tước đoạt tài sản. Khái niệm này không chỉ dừng ở nguy cơ quốc hữu hóa hay bị tịch thu tài sản, mà còn bao gồm cả rủi ro đến từ các can thiệp hành chính và những sắc lệnh quản lý gây bất ổn.

Khi sắc lệnh hành chính tạo ra sự không chắc chắn, những thay đổi đột ngột thì đó cũng là một dạng rủi ro đối với người nắm giữ tài sản và người kinh doanh. Doanh nghiệp hiện nay không quá sợ cạnh tranh, mà điều họ lo ngại hơn là môi trường chính sách thiếu ổn định và khó dự báo.

Muốn giảm can thiệp hành chính, phải nâng vai trò của tư pháp.

Muốn giảm can thiệp hành chính, phải nâng vai trò của tư pháp

- Như vậy, cải cách thể chế cần được hiểu như thế nào để không chỉ dừng ở việc cắt giảm thủ tục hành chính?

TS Nguyễn Quốc Việt: Cải cách thể chế không thể chỉ dừng ở việc cắt giảm thủ tục hành chính. Nếu muốn giảm sự can thiệp trực tiếp của cơ quan quản lý, Việt Nam đồng thời phải nâng cao vai trò và hiệu quả của hệ thống tư pháp.

Điều này không chỉ liên quan tới tòa án mà còn bao gồm vai trò của luật sư, cơ chế giải quyết tranh chấp và toàn bộ hệ thống hỗ trợ pháp lý. Khi doanh nghiệp tin rằng quyền tài sản và tranh chấp của mình được bảo vệ một cách minh bạch, ổn định thì nhà nước mới có thể giảm dần việc điều hành bằng các mệnh lệnh hành chính trực tiếp. Tôi cũng muốn nhắc tới chỉ số “legal formalism”, tức mức độ hình thức và nặng nề của hệ thống pháp lý.

Đây là bộ chỉ số đo lường mức độ phức tạp của hệ thống luật pháp, số tầng nấc thủ tục và chi phí tuân thủ mà doanh nghiệp phải gánh chịu. Nếu một quốc gia có hệ thống pháp lý quá nặng nề, quá nhiều thủ tục, quá nhiều quy định hình thức thì chính điều đó lại trở thành lực cản cho sự phát triển.

Khi một nền kinh tế bảo vệ tốt quyền tài sản và hạn chế được các can thiệp tùy tiện, điều đó thường giúp cải thiện nhiều chỉ số vĩ mô như tăng trưởng GDP, mở rộng thị trường chứng khoán hay nâng cao hiệu quả phân bổ tín dụng. Ngược lại, nếu hệ thống pháp lý trở nên quá cồng kềnh và nặng về hình thức thì sẽ làm giảm hiệu quả của thị trường tài chính.

Nguyên nhân là khi hệ thống pháp lý quá phức tạp, doanh nghiệp phải gánh thêm chi phí tuân thủ, trong khi thị trường vốn trở nên kém linh hoạt và dòng tiền khó được phân bổ hiệu quả. Luật pháp hay nghị quyết cũng giống như một loại hàng hóa công. Ở giai đoạn đầu, việc bổ sung quy định có thể tạo ra tác động tích cực, giúp thị trường minh bạch và an toàn hơn.

Tuy nhiên, khi vượt qua một ngưỡng nhất định, hiệu quả của các quy định sẽ giảm dần và thậm chí tạo thêm chi phí cho nền kinh tế. Nếu hệ thống quy định trở nên quá phức tạp, doanh nghiệp và người dân sẽ ưu tiên tìm cách thích ứng hoặc né tránh thay vì tập trung vào sản xuất kinh doanh.

- Ông nhìn nhận như thế nào về áp lực ban hành nhanh các nghị quyết, chương trình hành động và văn bản hướng dẫn hiện nay?

TS Nguyễn Quốc Việt: Tôi cho rằng tốc độ cải cách là cần thiết, nhưng nếu thời gian chuẩn bị quá gấp thì việc đánh giá tác động chính sách sẽ khó đầy đủ. Có những yêu cầu chỉ trong vòng một tháng, thậm chí chưa đầy một tháng là phải ban hành văn bản. Khi đó, câu hỏi đặt ra là việc đánh giá tác động chính sách có được thực hiện đầy đủ hay không.

Áp lực trách nhiệm hiện nay cũng khiến nhiều cán bộ lựa chọn phương án an toàn trong quá trình xây dựng chính sách, làm giảm động lực đổi mới và sáng tạo. Tôi muốn nhắc lại Nghị quyết 19 trước đây về cải thiện môi trường kinh doanh như một ví dụ tích cực của cải cách thể chế.

Nghị quyết này từng tạo ra không gian khá hiệu quả để doanh nghiệp, chuyên gia và các tổ chức quốc tế cùng tham gia phản biện, đồng thời xây dựng được nhiều bộ chỉ số đo lường theo chuẩn quốc tế.

Tuy nhiên, hiện nay các chương trình cải cách đang đứng trước thách thức về tính đồng bộ khi có quá nhiều nghị quyết và chương trình hành động được triển khai cùng lúc, kéo theo khối lượng văn bản hướng dẫn ngày càng lớn.

- Lấy ví dụ về Nghị quyết 57 liên quan đến khoa học công nghệ, chương trình triển khai ở nhiều địa phương hiện vẫn khá giống nhau và chưa tạo ra nhiều khác biệt trong cách tiếp cận. Vậy theo ông, điều quan trọng nhất trong đổi mới thể chế hiện nay là gì?

TS Nguyễn Quốc Việt: Điều quan trọng không nằm ở số lượng nghị quyết được ban hành mà là mức độ cải thiện thực chất của môi trường kinh doanh và niềm tin của doanh nghiệp. Có nghị quyết là điều rất quan trọng, nhưng điều quan trọng hơn là các thay đổi đó có thực sự đi vào cuộc sống và tạo ra chuyển biến thực chất hay không.

Việt Nam hiện nay không cần thêm thật nhiều văn bản, mà cần một môi trường thể chế ổn định hơn, minh bạch hơn, ít bất định hơn và đủ an toàn để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.

Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!

Theo vietnamfinance.vn

Gia tăng nguồn thu từ diện tích trồng sen

Không chỉ cho hoa, hạt và ngó, cây sen đang được nhiều địa phương khai thác theo hướng kết hợp mô hình nuôi cá, chế biến, làng nghề và du lịch trải nghiệm. Khi sản xuất được tổ chức theo nhu cầu thị trường và gắn với doanh nghiệp thu mua, cây sen có thể trở thành một mô hình chuyển đổi sinh kế phù hợp với những vùng đất sản xuất kém hiệu quả.

Tăng nguồn cung hàng hóa phục vụ nhu cầu mua sắm dịp Quốc khánh 2/9

Trước kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, các hệ thống bán lẻ đã tăng dự trữ hàng hóa, tập trung vào thực phẩm tươi sống, rau củ quả, thực phẩm chế biến, đồ uống và hàng thiết yếu. Một số nhóm hàng dự kiến tăng nguồn cung lên 130-200% so với ngày thường, cùng nhiều chương trình khuyến mại được triển khai trong dịp này.

Vĩnh Long giữ đà dẫn đầu, nâng chất sản phẩm công nghiệp nông thôn

Sau khi dẫn đầu cả nước về số sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp quốc gia năm 2025, Vĩnh Long tiếp tục duy trì quy mô bình chọn, đồng thời nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm. Công nghệ, chế biến sâu, xây dựng thương hiệu, chuyển đổi số và mở rộng thị trường được xác định là những trụ cột để địa phương duy trì lợi thế và tạo thêm giá trị cho sản phẩm nông thôn.

Ngành gỗ tìm động lực tăng trưởng mới

Những diễn biến mới của thị trường khi Mỹ - thị trường "hấp thụ" lớn nhất suy giảm, ngành gỗ Việt Nam đứng trước yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, thay vì chỉ tiếp tục mở rộng sản lượng.

Video