Đề xuất chuyển 38,2 ha đất lúa sang đất xây dựng cảng hàng không Quảng Trị

Quảng Trị đề nghị Thủ tướng cho phép chuyển mục đích 38,2 ha đất trồng lúa để xây dựng cảng hàng không Quảng Trị (giai đoạn 1) trên địa bàn huyện Gio Linh.

Đề xuất chuyển 38,2 ha đất lúa sang đất xây dựng cảng hàng không Quảng Trị

Vừa qua, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị đã có tờ trình số 163/TTr – UBND gửi Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển mục đích đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh năm 2021 để xây dựng cảng hàng không Quảng Trị.

Cụ thể, UBND tỉnh Quảng Trị đề nghị Thủ tướng cho phép chuyển mục đích 38,2 ha đất trồng lúa để xây dựng cảng hàng không Quảng Trị (giai đoạn 1) trên địa bàn huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.

Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị Võ Văn Hưng cho biếT: "UBND tỉnh sẽ rà soát, thẩm định nhu cầu sử dụng đất của các công trình, dự án, đảm bảo phương án sử dụng đất tiết kiệm và chịu trách nhiệm đảm bảo chỉ tiêu sử dụng đất đã được xét duyệt; đảm bảo tính khả thi của các công trình, dự án trên thực tế và các quy định của pháp luật liên quan".

Trước đó, Bộ trưởng Bộ GTVT đã có Quyết định số 188/QĐ-BGTVT ngày 26/1/2021 về việc phê duyệt quy hoạch cảng hàng không Quảng Trị giai đoạn đến năm 2030.

Quyết định nêu rõ, cảng hàng không Quảng Trị nằm tại xã Gio Linh và Gio Mai, huyện Gio Linh, là cảng hàng không nội địa dùng chung dân dụng và quân sự. Mục tiêu quy hoạch là cấp sân bay 4C (theo mã tiêu chuẩn của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO), là sân bay quân sự cấp II với công suất là 1 triệu hành khách/năm và 3.100 tấn hàng hóa/năm với loại tàu bay khai thác code C hoặc tương đương có khả năng đỗ tàu bay code E.

Tổng nhu cầu sử dụng đất của cảng là 316,572 ha, trong đó diện tích dùng chung là 177,642 ha, diện tích đất khu hàng không dân dụng là 87,730 ha, diện tích đất khu quân sự là 51,200 ha. Nội dung Quy hoạch cảng hàng không Quảng Trị tập trung vào quy hoạch khu bay, các công trình quản lý điều hành bay, khu phục vụ mặt đất, các công trình phụ trợ Cảng.

Hệ thống đường cất hạ cánh gồm một đường cất hạ cánh theo hướng 04-22; kích thước 2.400m x 45m, lề vật liệu mỗi bên rộng 7,5m. Hệ thống đường lăn gồm một đường lăn song song, chiều dài khoảng 711,5m; vị trí tim đường lăn song song cách tim đường cất hạ cánh 172,5m.

Quy hoạch xây dựng hai đường lăn nối từ đường cất hạ cánh vào đường lăn song song; hai đường lăn nối từ đường lăn song song vào sân đỗ máy bay. Các đường lăn có chiều rộng 23m, lề vật liệu đường lăn, mỗi bên rộng 5m. Quy hoạch sân đỗ tàu bay đáp ứng 5 vị trí code C (có khả năng tiếp nhận tàu bay code E) đáp ứng công suất khai thác 1 triệu hành khách/năm. 

Các công trình quản lý, điều hành bay gồm: đài kiểm soát không lưu; đài dẫn đường VOR/DME; hệ thống thiết bị hạ cánh, hệ thống đèn tiếp cận, hệ thống quan trắc khí tượng tự động AWOS đồng bộ với đường cất hạ cánh.

Quy hoạch khu phục vụ mặt đất gồm có nhà ga hành khách 2 cao trình với tổng công suất thiết kế đạt 1 triệu hành khách/năm và nhà ga hàng hóa.

Quy hoạch giao thông gồm đường trục vào cảng mỗi bên rộng 3 làn xe chạy, có giải phân cách giữa. Bố trí trạm thu phí tại vị trí thích hợp để bảo đảm quản lý, khai thác xe ra vào cảng hàng không. Ngoài ra còn có cầu cạn, đường nội bộ, đường công vụ.

Hệ thống sân đỗ ô tô được xây dựng phía trước nhà ga hành khách diện tích khoảng 8.900m2 có khả năng mở rộng đồng bộ với việc mở rộng nhà ga hành khách.

Các công trình phụ trợ cảng hàng không gồm nhà điều hành Cảng hàng không, nhà làm việc của Cảng vụ hàng không, văn phòng các cơ quan Nhà nước, khu văn phòng làm việc các hãng hàng không.

Bên cạnh đó, còn có trạm sửa chữa, bảo dưỡng và đăng kiểm xe cơ giới, khu cấp nhiên liệu, khu dịch vụ sửa chữa bảo dưỡng máy bay, trung tâm dịch vụ thương mại, khu hàng không chung, hệ thống cấp điện, nước, trạm trung chuyển chất thải rắn và chất thải nguy hại, hệ thống tường rào bảo vệ cảng...

Hồi tháng 7/2021, dự án cảng hàng không Quảng Trị đã được HĐND tỉnh Quảng Trị chấp thuận thu hồi đất tại Nghị quyết số 95/NQ – HĐND với diện tích 165,37 ha.

Theo Doanh nghiệp và Tiếp thị

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm phát: Mục tiêu kép phải đạt được

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đã và đang theo đuổi những mục tiêu được đánh giá là “đầy tham vọng”: trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và đạt phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050. Điều này cho thấy quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam gắn chặt với bài toán khí hậu.

Sẵn sàng cho chu kỳ tăng trưởng mới

Bước sang năm 2026 – năm bản lề khởi đầu chu kỳ tăng trưởng mới giai đoạn 2026–2030, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng bền vững, dựa trên năng suất, khoa học – công nghệ và chất lượng thể chế, qua đó tạo nền tảng hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Xuất khẩu thuỷ sản tái cấu trúc năm 2026

Mặc dù ghi nhận những cú bật trong khó khăn của năm 2025, thủy sản Việt Nam hướng tới 2026 thận trọng bởi các yếu tố chu kỳ của thị trường, chuyển dịch cơ cấu thị trường và sản phẩm.

Phát huy vai trò nòng cốt, trụ cột phát triển kinh tế của ngành Công Thương trong kỷ nguyên mới

Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Phan Thị Thắng - Thứ trưởng Bộ Công Thương - đã trả lời phỏng vấn báo chí, làm rõ vai trò nòng cốt, trụ cột của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cũng như những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.

Xuất khẩu gạo đầu năm 2026: Thời cơ đã đến nhưng cạnh tranh khốc liệt hơn

Thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam bước vào đầu năm 2026 với nhiều tín hiệu tích cực khi Philippines là một trong những khách hàng lớn nhất dự kiến mở lại nhập khẩu sau giai đoạn điều tiết nguồn cung trong nước. Tuy nhiên, đi kèm với việc mở cửa là chính sách tăng thuế nhập khẩu, khiến bức tranh thị trường không chỉ có gam sáng mà còn đan xen nhiều thách thức, đặc biệt là áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Video