Xử lý nợ xấu: Cần nhìn thẳng sự thật

Khó khăn lớn nhất đối với tiến trình xử lý nợ xấu hiện nay là phải thống nhất về chủ trương, quan điểm có dùng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu hay không.

Thất bại ở đợt tái cơ cấu 5 năm trước, nợ xấu một lần nữa đặt ra bài toán khó cho nhiệm vụ tái cơ cấu hệ thống ngân hàng ở giai đoạn tiếp theo (2016-2020). Cho vay, không phải cấp phát Lần đầu tiên, vấn đề chi ngân sách xử lý nợ xấu được Chính phủ đề cập trong báo cáo kết quả thực hiện tái cơ cấu (đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước) và hệ thống ngân hàng) năm 2014. Tuy nhiên, trong báo cáo trình kỳ họp Quốc hội tháng 10-2014, Chính phủ lại rút đề xuất này do đánh giá khả năng không nhận được sự đồng thuận cao. Đến nay, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng sự tăng trưởng chậm lại của nền kinh tế những năm qua có phần do phải trả giá từ nợ xấu, để mặc các ngân hàng loay hoay xử lý nên không triệt để. Đã đến lúc phải nhìn thẳng vào sự thật là phải chi một phần ngân sách để xử lý dứt điểm nợ xấu.
[caption id="attachment_37268" align="aligncenter" width="660"]Nhiều chuyên gia cho rằng cần dùng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu Ảnh: TẤN THẠNH Nhiều chuyên gia cho rằng cần dùng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu. Ảnh: TẤN THẠNH[/caption]

TS Trương Văn Phước, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, nhận định khi nói đến chi ngân sách xử lý nợ xấu, dư luận có định kiến là lấy của người nghèo chia cho người giàu. Sử dụng ngân sách nhà nước (NSNN) không phải là “cho không, biếu không”, không phải cấp phát mà thực chất là một loại tín dụng nhà nước, cho vay có định lượng và bảo đảm tránh rủi ro. Nguồn ngân sách này cho các tổ chức tín dụng vay trong 5-10 năm với mức lãi suất nào đó, đến hạn, họ bán được các tài sản bảo đảm thì trả lại. Ngoài ra, cũng có thể phát hành trái phiếu đặc biệt. “Cần thống nhất về mặt chủ trương, sau đó mới bắt tay vào vấn đề kỹ thuật. Xin lưu ý, mỗi năm tỉ lệ nợ xấu tự nhiên của nền kinh tế phát sinh vào khoảng 1,25% GDP, tương ứng 60.000-70.000 tỉ đồng. Nếu chúng ta không tát ao thật nhanh thì nước mưa từ trên trời trút xuống sẽ tiếp tục làm ao đầy thêm” - ông Phước ví von.

TS Trương Văn Phước cho biết thêm là tỉ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu của hệ thống ngân hàng 5 năm gần đây giảm 3 lần, từ 12% còn 4%, tỉ lệ sinh lời trên tài sản bảo đảm cũng giảm làm cho nền kinh tế phải chấp nhận chi phí vốn cao. Đó là một trong những lý do trực diện khiến lãi suất lên đến 8%-9%, trong khi lạm phát chưa tới 1%.

Luật sư Trương Thanh Đức, Chủ tịch HĐTV Công ty Luật Basico, cho rằng dù muốn hay không vẫn phải dùng NSNN để xử lý nợ xấu, đây là vấn đề có tính nguyên tắc và kinh nghiệm thế giới đã chỉ ra. Thực tế, NSNN đã tham gia xử lý nợ xấu thông qua chi phí cho hoạt động của Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng (VAMC), giảm thu từ việc các ngân hàng trích lập dự phòng rủi ro cho nợ xấu... Đã đến lúc thừa nhận vấn đề này để có giải pháp hiệu quả.

Bài toán đánh đổi

Trước những lấn cấn của cả người làm chính sách và dư luận về việc xử lý nợ xấu bằng NSNN, TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế trung ương (CIEM), nhìn nhận quá trình xử lý nợ xấu phải tách khỏi việc trừng phạt người gây ra nợ xấu. Như vậy, không có nghĩa là khoan dung, là cứu rỗi ngân hàng yếu kém mà thực chất là giảm đi tổn thất, chi phí mà nền kinh tế phải gánh chịu đối với nợ xấu. Từ đó, bảo đảm hệ thống tài chính hoạt động bình thường. Điều này đặc biệt quan trọng khi nền kinh tế Việt Nam chủ yếu dựa vào tín dụng ngân hàng với quy mô tín dụng lên đến 110% GDP.

“Chúng ta không nên sa đà vào việc tranh luận có nên dùng tiền thuế của người dân để xử lý nợ xấu hay không. Vấn đề cốt lõi là bài toán đánh đổi. Nếu sử dụng 5% GDP để xử lý nợ xấu ngay bây giờ thì 5 năm sau, nền kinh tế thu lại 10% GDP từ tăng trưởng thì đây là việc các nhà quản lý phải suy nghĩ. Nếu không, nền kinh tế cứ như cỗ xe di chuyển chậm chạp, không có sức để bứt lên” - TS Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên kinh tế và Chính sách - ĐHQG Hà Nội, phân tích.

xu-ly-no-xau box

Theo Tô Hà Người lao động

Tags:

Tạo dư địa phát triển cho thuê tài chính

Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV, đang có nhu cầu lớn về nguồn vốn trung, dài hạn để đầu tư máy móc, thiết bị, đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất, trong khi khả năng cân đối vốn tự có còn hạn chế.

Năm 2025, tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai tăng 15,92%

Số liệu chính thức về hoạt động tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai cho thấy, kết thúc năm 2025, tín dụng khu vực này đạt 5.806,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,92% so với năm 2024, phản ánh tốc độ tăng trưởng cao gắn liền với kết quả tăng trưởng kinh tế - xã hội khu vực cũng như cơ chế chính sách, điều hành chính sách tiền tệ tín dụng của Ngân hàng Nhà nước.

Làm tốt hoạt động ngân hàng đối với khu công nghiệp, khu chế xuất góp phần phát triển kinh tế - xã hội

Mở rộng và phát triển dịch vụ ngân hàng đối với khu công nghiệp, khu chế xuất không chỉ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, mà còn tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) mở rộng các hoạt động dịch vụ ngân hàng.

Nam A Bank tiên phong khởi xướng cộng đồng tài chính xanh – Đòn bẩy của Trung tâm Tài chính Quốc tế TP.HCM

Tại Hội thảo “Thúc đẩy tài chính xanh và sàn giao dịch tín chỉ carbon trong trung tâm tài chính quốc tế”, Nam A Bank đã tiên phong đề xuất thành lập Cộng đồng Tài chính xanh. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm xây dựng hệ sinh thái bền vững, đồng hành cùng Trung tâm Tài chính Quốc tế TP.HCM (VIFC) hiện thực hóa mục tiêu Net Zero 2050, thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam.

Nam A Bank tăng trưởng quy mô vượt trội trong năm 2025, chất lượng tài sản được cải thiện đáng kể

Kết thúc năm 2025, Ngân hàng TMCP Nam Á (HOSE: NAB) ghi nhận kết quả kinh doanh với các chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đạt 18,2%, tổng tài sản tiệm cận mốc 420.000 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng duy trì ở mức thấp 2,15% (1,93% trước CIC); tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng mạnh lên mức hơn 54%.

Video