Xăng dầu trở thành mặt hàng nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam từ Malaysia

Chiếm 28,4% về tỷ trọng, xăng dầu trở thành mặt hàng nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam từ Malaysia và đẩy mặt hàng máy vi tính sản phẩm điện tử xuống vị trí thứ 2

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Malaysia trong 5 tháng đầu năm 2024 đạt 6,2 tỷ USD, tăng tới 22,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu là 2,1 tỷ USD, chỉ tăng nhẹ 2,5% so với cùng kỳ. Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu đạt 4 tỷ USD, tăng mạnh tới 35,8% so với cùng kỳ.

Xăng dầu trở thành mặt hàng nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam từ Malaysia
 
 

Do xuất khẩu chỉ tăng nhẹ trong khi nhập khẩu tăng nhanh dẫn đến cán cân thương mại bị thâm hụt 1,9 tỷ USD, tăng 113,9% so với cùng kỳ, về giá trị tuyệt đối, mức thâm hụt cán cân thương mại gần bằng với giá trị xuất khẩu và tăng tới hơn 1 tỷ USD.

Về xuất khẩu, hầu hết các mặt hàng đều tăng trưởng. Đáng chú ý, mặt hàng gạo tăng trưởng tới 125% và đã trở thành mặt hàng xuất khẩu lớn, chiếm tỷ trọng tới 9,4%, đứng thứ 4 trong số các mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam vào Malaysia. Cùng với gạo, các mặt hàng nông sản khác như cà phê cũng có mức tăng trưởng ấn tượng tới 93,1% so với cùng kỳ năm trước. Sản phẩm từ chất dẻo cũng có mức tăng đến 72,6%, tuy nhiên tỷ trọng mặt hàng này còn thấp. Các mặt hàng giảm về kim ngạch đáng lưu ý là sản phẩm hóa chất giảm tới 44,9%, hàng thủy sản giảm 17,8%.

Tuy nhiên, hai mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất đều có mức tăng trưởng âm, như sắt thép các loại giảm tới 5,4%, mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện giảm tới 18%. Đây chính là nguyên nhân làm xuất khẩu sang Malaysia tăng chậm.

Về nhập khẩu, điểm đáng lưu ý là mặt hàng xăng dầu đã trở thành mặt hàng nhập khẩu lớn nhất chiếm 28,4% về tỷ trọng và đẩy mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện xuống vị trí thứ 2 với tỷ trọng 20,9%. Đây cũng là hai mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất và vượt trội so với các mặt hàng còn (đều chiếm tỷ trọng từ 6% trở xuống). Cả hai mặt hàng này đều tăng mạnh, xăng dầu các loại tăng tới 123,5%, còn mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện cũng tăng tới 19,7%, vải các loại tăng 28,5%, giấy các loại tăng 33,9%.

Tuy nhập khẩu tăng mạnh là từ những mặt hàng nguyên, nhiên liệu chiếm tỷ trọng lớn như xăng dầu, khí đốt các loại nhưng thâm hụt cán cân thương mại quá lớn trong khi đầu tư từ Malaysia sang Việt Nam tăng chậm sẽ gây bất lợi cho cán cân vãng lai giữa hai nước.

Theo Công Thương

Trái hồng Việt Nam tìm lợi thế cạnh tranh trước áp lực hàng nhập khẩu

Bước vào mùa thu hoạch, trái hồng Việt Nam phải cạnh tranh với nguồn cung từ Trung Quốc, trong đó có những sản phẩm được bán với giá thấp. Sự khác biệt về giống, chất lượng và nguồn gốc đang mở ra cơ hội cho các vùng trồng đặc sản đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao giá trị cho nông sản nội địa.

Thương mại Việt Nam - Campuchia hướng tới mục tiêu 20 tỷ USD

Với kim ngạch thương mại song phương đạt 8,67 tỷ USD trong 8 tháng đầu năm 2026, quan hệ kinh tế Việt Nam - Campuchia tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Theo ông Đỗ Việt Phương, Tham tán Thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Campuchia, mục tiêu đưa kim ngạch thương mại hai nước lên 20 tỷ USD là khả thi, song vẫn cần thời gian để thúc đẩy mạnh mẽ hơn.

Gỡ nút thắt vùng nguyên liệu cho ngành chế biến mắc ca

Dù diện tích mắc ca cả nước đã vượt 46.000 ha, nguồn hạt trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu chế biến sâu. Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam chi khoảng 30 triệu USD nhập khẩu mắc ca thô, dù xuất khẩu các sản phẩm chế biến tăng vọt. Thực trạng này đòi hỏi chiến lược phát triển vùng nguyên liệu chuẩn hóa song hành cùng sự tham gia của doanh nghiệp vào chuỗi liên kết.

Hướng phát triển cho các loại hồng đặc sản giá trị cao

Từ một loại quả theo mùa, trái hồng đang dần phân hóa thành nhiều phân khúc giá trị, trong đó những sản phẩm khan hiếm hoặc có đặc tính khác biệt được người mua chấp nhận mức giá cao. Xu hướng này mở ra hướng mới cho việc gia tăng giá trị trái cây đặc sản nội địa.

Việt Nam rút ngắn khoảng cách công nghệ trong nông nghiệp thông minh

Thiếu lao động, chi phí đầu vào và yêu cầu sử dụng tài nguyên hiệu quả đang thúc đẩy nông nghiệp chuyển nhanh sang mô hình dựa trên dữ liệu, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo (AI). Với Việt Nam, vấn đề không chỉ là tiếp nhận công nghệ mới mà còn là chọn được giải pháp phù hợp với quy mô sản xuất và khả năng đầu tư của nông dân.

Video