Vốn đầu tư và kinh doanh bất động sản chiếm 8,5% tổng tín dụng

Tăng trưởng tín dụng đạt 10,2% so với cuối năm 2015, nhưng tăng trưởng tín dụng bình quân 8 tháng/2016 đạt 4,7% (cùng kỳ 2015 là 4,1%).

[caption id="attachment_37237" align="aligncenter" width="660"]Nguồn: UBGSTCQG Nguồn: UBGSTCQG[/caption]
Theo báo cáo mới đây của Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia, hệ thống tài chính trong 9 tháng đầu năm nhìn chung ổn định, đảm bảo khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế. Tín dụng cần tăng nhanh hơn trong quý IV/2016 Tổng nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế đến 31/8/2016 đạt 7.565 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1% so với cuối năm 2015, tương đương 180% GDP. Tín dụng ngân hàng tiếp tục là kênh cung ứng vốn chủ yếu, chiếm 65,3% tổng cung ứng vốn cho nền kinh tế, thị trường vốn thị trường vốn (gồm cổ phiếu và trái phiếu) chiếm 34,7%. Tín dụng tính đến 31/8/2016 đạt 4.943 nghìn tỷ đồng, trong đó: dư nợ cho vay đạt 4.560 nghìn tỷ đồng, trái phiếu doanh nghiệp đạt 382 nghìn tỷ đồng. Tăng trưởng tín dụng đạt 10,2% so với cuối năm 2015, nhưng tăng trưởng tín dụng bình quân 8 tháng/2016 đạt 4,7% (cùng kỳ 2015 là 4,1%). Vòng quay vốn tín dụng cải thiện nhẹ: 8 tháng/2016 là 4,42 vòng (cùng kỳ năm 2015 là 4,21 vòng). Để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm 18-20%, tín dụng cần tăng nhanh hơn trong quý IV/2016. Tín dụng đầu tư và kinh doanh BĐS chiếm 8,5% tổng tín dụng Về cơ cấu cho vay tín dụng, tín dụng VND và tín dụng trung, dài hạn chiếm tỷ trọng chính: tín dụng VND chiếm 91,2% tổng tín dụng, tín dụng trung và dài hạn chiếm 55,9% tổng tín dụng. Tuy nhiên, tín dụng trung và dài hạn tăng chậm lại, trong 8 tháng/2016 tăng 11,1% (cùng kỳ 2015 tăng 18,7%). Tín dụng đầu tư và kinh doanh BĐS tăng 5,3% so với cuối năm 2015, chiếm 8,5% tổng tín dụng (cuối năm 2015 là 8,9%). Trong khi đó, tín dụng tiêu dùng tăng 28,7% so với cuối năm 2015, chiếm 11,3% tổng tín dụng (năm 2015 là 9,7%). Tín dụng tiêu dùng tập trung chủ yếu vào nhu cầu sửa chữa nhà, mua nhà để ở (chiếm khoảng 49,9%), mua đồ dùng trang thiết bị (26%) và phương tiện đi lại (10,7%). Tỷ trọng tín dụng theo ngành kinh tế ít thay đổi so với cuối năm 2015. Dư nợ đối với các hoạt động dịch vụ khác và ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng tín dụng lớn nhất, lần lượt là 36,6% và 22,2% tổng tín dụng. Tiếp theo là ngành thương mại: 17,8%, Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 10%. Chất lượng tài sản chậm cải thiện Theo báo cáo từ các TCTD, tỷ lệ nợ xấu dưới 3%. Tuy nhiên nợ xấu phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu tại một số TCTD yếu kém (nợ xấu của 19 TCTD chiếm 55,1% tổng nợ xấu hệ thống). Lãi dự thu của hệ thống TCTD cao, tăng 17,2% so với cuối năm 2015, tập trung tại một số TCTD yếu kém (lãi dự thu của 9 TCTD chiếm 61,7% tổng lãi dự thu toàn hệ thống). Xử lý nợ xấu chậm do năng lực trích lập dự phòng rủi ro của TCTD hạn chế, việc phát mại tài sản bảo đảm gặp nhiều khó khăn pháp lý, quá trình tố tụng kéo dài. Thanh khoản khu vực ngân hàng nhìn chung tiếp tục duy trì ổn định. Tính đến cuối tháng 8, nguồn vốn huy động từ TCKT và dân cư đạt 5.834 nghìn tỷ đồng tăng 11,4% (cùng kỳ năm trước tăng 8%; ước tính đến cuối tháng 9 tăng trên 12%). Tỷ lệ tín dụng/huy động (LDR) bình quân là 84,7% (cuối năm 2015 là 85,7%). Tín hiệu tích cực cho giảm lãi suất vay Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục giảm ở tất cả các kỳ hạn so với cuối tháng 8. Đặc biệt, lãi suất qua đêm đã giảm xuống mức thấp kỷ lục 0,36% vào ngày 16/9, thấp hơn rất nhiều so với mức 5,2%-5,6% thời điểm đầu năm. Nhờ đó, Kho bạc Nhà nước đã sớm hoàn thành kế hoạch huy động TPCP cả năm 2016. Tính đến 23/9/2016, tổng giá trị huy động TPCP đạt 100,13% kế hoạch (tương đương 250 nghìn 320 tỷ đồng); Kỳ hạn TPCP phát hành bình quân là 7,48 năm cao hơn mức 6,1 năm của năm 2015.

khoi luong bom rong nhnn

Trong khi đó, chi phí vốn của nền kinh tế duy trì ổn định. Diễn biến lãi suất huy động và cho vay trong 9 tháng đầu năm cho thấy mặt bằng lãi suất huy động và cho vay tăng nhẹ chủ yếu do các nguyên nhân đón đầu quy định về tỷ lệ cho vay trung và dài hạn tại một số các NHTMCP.

Vào đầu tháng 9, một số ngân hàng trong khối TMCP vẫn tiếp tục tăng lãi suất huy động kỳ hạn dài từ 0,3-05% để cạnh tranh thu hút khách hàng và đạt chỉ tiêu kinh doanh vào cuối quý. Trong khi đó, từ ngày 26/9, một số ngân hàng một số NHTM lớn đã giảm lãi suất huy động từ 0,3-0,5 điểm % đối với tiền gửi ngắn hạn và một số NHNN cũng đã giảm lãi suất cho vay đối với đối tượng ưu tiên cho đến cuối năm 2016.

Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia nhận định thông thường, vào quý cuối năm, các ngân hàng thường đẩy mạnh tín dụng để đạt chỉ tiêu cả năm. Đây là một tín hiệu tích cực của việc giảm lãi suất cho vay vào mùa cao điểm tín dụng cuối năm.

Theo Trí thức trẻ

Tags:

Vốn cho bất động sản: Dòng tiền ưu tiên dự án an toàn, nhu cầu thực

Trong bối cảnh ngân hàng hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, các ngành ưu tiên và các động lực tăng trưởng mới như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và khoa học - công nghệ, dòng tiền vào bất động sản được định hướng theo hướng chọn lọc hơn, ưu tiên nhu cầu thực và các dự án có tính thanh khoản cao.

NHNN rà soát, đẩy mạnh phân cấp, cắt giảm thủ tục hành chính trong lĩnh vực ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đang tiến hành rà soát lớn đối với thủ tục hành chính trong lĩnh vực ngân hàng, với trọng tâm là cắt giảm thời gian xử lý hồ sơ, đơn giản hóa giấy tờ và phân cấp mạnh hơn cho NHNN chi nhánh khu vực. Hàng loạt dự thảo thông tư vừa được công bố cho thấy xu hướng chung là chuyển nhiều thủ tục từ cấp Trung ương về địa phương, đồng thời giảm đáng kể thời gian giải quyết trong các lĩnh vực như quản lý ngoại hối, cấp phép ngân hàng, thanh toán không dùng tiền mặt, fintech và tổ chức tín dụng hợp tác xã…

Phát triển KHCN&ĐMST, tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi số, hiện đại hóa hoạt động ngân hàng

Ngày 18/5 hằng năm là Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, góp phần tôn vinh đội ngũ trí thức, khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) trong phát triển đất nước. Đối với ngành Ngân hàng, đây cũng là động lực thúc đẩy chuyển đổi số, hiện đại hóa hoạt động và xây dựng hệ sinh thái tài chính số lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.

Ngân hàng số tăng tốc, mở rộng không gian phát triển kinh tế số

Chuyển đổi số đang trở thành một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng của ngành Ngân hàng cũng như nền kinh tế Việt Nam. Nếu như vài năm trước, chuyển đổi số chủ yếu được nhìn nhận như một xu hướng công nghệ, thì đến nay, quá trình này đã bước sang giai đoạn phát triển mới, trở thành nền tảng cốt lõi để tái cấu trúc mô hình hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận tài chính và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

AI tái định hình ngành Ngân hàng: Thu hẹp phòng giao dịch, cắt giảm nhân sự

Từng có thời, độ phủ chi nhánh và phòng giao dịch được xem là biểu tượng sức mạnh của một ngân hàng. Nhà băng nào sở hữu mạng lưới rộng, hiện diện ở nhiều tuyến phố trung tâm, đồng nghĩa với vị thế lớn mạnh và khả năng tiếp cận khách hàng vượt trội. Nhưng chỉ sau vài năm chuyển đổi số bùng nổ, thực tế ấy đang đảo chiều.

Hoàn thiện “lá chắn” an ninh tài chính số

Trong kỷ nguyên AI, cùng với đà tăng tốc chuyển đổi số của ngành ngân hàng, việc xây dựng “lá chắn” an ninh tài chính số và củng cố niềm tin người dùng đang trở thành yêu cầu mang tính chiến lược.

Video