Vinfast, Vinamilk... đã áp dụng sản xuất thông minh như thế nào?

Theo ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương, các doanh nghiệp trong nước đã mạnh dạn phát triển sản xuất thông minh từ đặt hàng cho đến sản xuất như Thaco Madaz, Tổ hợp sản xuất ô tô Vinfast tại Khu kinh tế Cát Hải, nhà máy sữa Vinamilk tại Bình Dương, giàn khoan tự nâng của Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel.

Vinfast, Vinamilk... đã áp dụng sản xuất thông minh như thế nào?

Nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn hoài nghi về lợi ích khi đầu tư vào công nghệ mới

Chiều ngày 9/11, tại Hà Nội đã diễn ra hội thảo chuyên đề 2: "Phát triển sản xuất thông minh trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045", nằm trong chuỗi các hội thảo chuyên đề của Diễn đàn Cấp cao thường niên, dưới sự chủ trì của Ban Kinh tế Trung ương.

Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương cho biết, mục tiêu của quá trình cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tại Việt Nam đó là thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ. Đồng thời, đổi mới sáng tạo trên tất cả các ngành, lĩnh vực và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia.

Theo báo cáo công nghiệp hóa trong kỷ nguyên số của UNIDO, Việt Nam có chỉ số Năng lực cạnh tranh công nghiệp CIP năm 2019 xếp thứ 43, tăng 3 bậc so với năm 2015 xếp thứ 46. Về phát triển công nghệ số tiên tiến, Việt Nam được xếp trong nhóm các nền kinh tế tiêu dùng công nghệ số.

Bên cạnh đó, trong số 40 nền kinh tế chủ động theo đuổi Công nghiệp 4.0 với nhập khẩu thiết bị, công nghệ số thì Việt Nam đứng thứ 15; xuất khẩu công nghệ và hoạt động sáng chế của Việt Nam đứng thứ 46, 48 trong số 150 nền kinh tế trong nghiên cứu.

Theo nghiên cứu của Ngân hàng thế giới khu vực Đông Á - Thái Bình Dương công bố tháng 11/2021, công nghiệp chế biến chế tạo của các doanh nghiệp Việt Nam 70% sử dụng máy móc do con người điều khiển. 

Ngoài ra, 20% được làm thủ công, chỉ 9% sử dụng máy móc được điều khiển bằng máy vi tính và dưới 1% sử dụng công nghệ tiên tiến hơn như robot, sản đắp lớp 3D. Hơn 75% doanh nghiệp vừa và nhỏ, 2/3 doanh nghiệp lớn được khảo sát hoài nghi về lợi ích kinh tế của việc đầu tư vào công nghệ mới. 

Theo báo cáo của CSIRO, Úc và Bộ KH&CN công bố tháng 11/2021, số lượng các doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động đổi mới sáng tạo, và tỷ lệ doanh nghiệp có R&D trong các ngành sản xuất còn rất thấp. 

"Thực tế cho thấy, phát triển sản xuất thông minh trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 sẽ phải đối diện với nhiều khó khăn và thách thức", ông Hiển nhấn mạnh.

Ngành nào sẽ thay đổi nhanh nhất?

Tuy nhiên, ông Hiển chia sẻ, công nghiệp công nghệ thông tin của Việt Nam là lĩnh vực thay đổi nhanh nhất. Đây là ngành tốt nhất để đi tắt đón đầu với tốc độ phát triển nhanh của nền kinh tế số; mạng 5G bắt đầu được triển khai thương mại hóa, cơ sở hạ tầng cốt lõi với mạng băng thông rộng tốc độ cao làm nền tảng tốt cho đẩy mạnh hoạt động sản xuất thông minh. 

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong nước đã mạnh dạn phát triển sản xuất thông minh với hệ điều hành sản xuất trên nền tảng số hóa, kết nối với các dây chuyền tự động toàn nhà máy với thông tin xuyên suốt chuỗi giá trị, từ đặt hàng cho đến sản xuất như Thaco Madaz, Tổ hợp sản xuất ô tô Vinfast tại Khu kinh tế Cát Hải, nhà máy sữa Vinamilk tại Bình Dương, Giàn khoan tự nâng cấp của Tập đoàn dầu khí Việt Nam...

Cũng trong khuôn khổ buổi hội thảo, Phó Vụ trưởng Vụ KH&CN, ông Đào Trọng Cường cho biết, việc phát triển sản xuất thông minh trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là cơ hội quan trọng.

Tuy nhiên, đây cũng là thách thức để Việt Nam đẩy mạnh chuyển dịch từ lắp ráp, gia công sang sản xuất sản phẩm theo hướng "Make in Viet Nam". Đồng thời, đây cũng là cơ hội và thách thức cho quá trình đổi mới sáng tạo tại, thiết kế và sản xuất tại Việt Nam.

Theo Doanh nghiệp và Tiếp thị

Tăng tốc hút vốn tư nhân cho kinh tế số

Theo báo cáo thường niên của Google, Temasek và Bain & Company, vốn tư nhân đầu tư vào nền kinh tế số Đông Nam Á trong 6 tháng đầu năm 2025 đạt 7,7 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước.

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm phát: Mục tiêu kép phải đạt được

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đã và đang theo đuổi những mục tiêu được đánh giá là “đầy tham vọng”: trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và đạt phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050. Điều này cho thấy quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam gắn chặt với bài toán khí hậu.

Sẵn sàng cho chu kỳ tăng trưởng mới

Bước sang năm 2026 – năm bản lề khởi đầu chu kỳ tăng trưởng mới giai đoạn 2026–2030, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng bền vững, dựa trên năng suất, khoa học – công nghệ và chất lượng thể chế, qua đó tạo nền tảng hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Xuất khẩu thuỷ sản tái cấu trúc năm 2026

Mặc dù ghi nhận những cú bật trong khó khăn của năm 2025, thủy sản Việt Nam hướng tới 2026 thận trọng bởi các yếu tố chu kỳ của thị trường, chuyển dịch cơ cấu thị trường và sản phẩm.

Phát huy vai trò nòng cốt, trụ cột phát triển kinh tế của ngành Công Thương trong kỷ nguyên mới

Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Phan Thị Thắng - Thứ trưởng Bộ Công Thương - đã trả lời phỏng vấn báo chí, làm rõ vai trò nòng cốt, trụ cột của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cũng như những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.

Video