VETC và ePass thu phí: Làm rõ ranh giới giữa 'được thu' và 'tự ý áp phí'

Từ tháng 8/2026, VETC và ePass bắt đầu thu phí quản lý tài khoản 6.600 đồng/tháng với khách hàng cá nhân và 66.000 đồng/tháng với tổ chức, doanh nghiệp. Luật sư Nguyễn Văn Đồng cho rằng, việc doanh nghiệp được phép thu phí không đồng nghĩa với quyền tự ý áp thêm nghĩa vụ tài chính lên khách hàng, mà còn phải xem xét hợp đồng, điều kiện giao dịch chung và cách thức thông báo, thay đổi chính sách.

Phải đánh giá bản chất thu phí

Bắt đầu từ tháng 8/2026, các ứng dụng thanh toán phí giao thông như VETC và ePass sẽ chính thức thu phí quản lý tài khoản đối với người dùng (bao gồm cả cá nhân và doanh nghiệp).

Khách hàng cá nhân trả 6.600 đồng mỗi ví một tháng, tương đương 79.200 đồng mỗi năm. Mức phí với tổ chức, doanh nghiệp là 66.000 đồng mỗi ví một tháng, tương đương 792.000 đồng mỗi năm.

Một ví của tổ chức, doanh nghiệp có thể liên kết không giới hạn số phương tiện. Vì vậy, doanh nghiệp có 5, 10 hay 20 xe cùng liên kết với một ví cũng chỉ trả 66.000 đồng mỗi tháng.

Luật sư Nguyễn Văn Đồng, Trưởng Văn phòng Luật sư Nhân Chính (Đoàn Luật sư TP. Hà Nội).

Trao đổi với VietnamFinance luật sư Nguyễn Văn Đồng, Trưởng Văn phòng Luật sư Nhân Chính (Đoàn Luật sư TP. Hà Nội), việc VETC và ePass thu phí quản lý tài khoản 6.600 đồng/tháng không thể chỉ xem xét ở góc độ doanh nghiệp có được phép thu phí hay không, mà cần đánh giá đồng thời bản chất khoản phí, hợp đồng hoặc điều kiện giao dịch chung đã ký với khách hàng và cách doanh nghiệp thay đổi, thông báo điều kiện dịch vụ.

Theo thông tin được công bố, VETC cho biết đây là phí dịch vụ quản lý tài khoản ví điện tử, không phải phí sử dụng đường bộ và không làm thay đổi giá qua trạm. Trong khi đó, ePass cho biết khoản 6.600 đồng/tháng là phí dịch vụ do đơn vị quản lý phương tiện thanh toán liên kết, cụ thể là ví điện tử Viettel Money, trực tiếp thu.

Nghị định 119/2024/NĐ-CP về thanh toán điện tử giao thông đường bộ đã thiết lập mô hình tài khoản giao thông kết nối với phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Vì vậy, về mặt pháp lý, việc tài khoản giao thông được kết nối với ví điện tử hoặc phương tiện thanh toán khác là có cơ sở.

Tuy nhiên, theo luật sư Nguyễn Văn Đồng, việc pháp luật cho phép doanh nghiệp thu phí không đồng nghĩa doanh nghiệp được tự động áp đặt bất kỳ khoản phí nào đối với khách hàng đang sử dụng dịch vụ.

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định người tiêu dùng có quyền được cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin về nội dung giao dịch, có quyền quyết định tham gia hoặc không tham gia giao dịch và được cung cấp sản phẩm, dịch vụ đúng với nội dung đã giao kết.

Đáng chú ý, Điều 25 của luật này đặt ra giới hạn đối với việc doanh nghiệp đơn phương thay đổi hợp đồng, điều kiện giao dịch chung hoặc giá trong quá trình cung cấp dịch vụ liên tục. Doanh nghiệp không được đưa vào hợp đồng những điều khoản cho phép đơn phương thay đổi các nội dung này mà không quy định quyền chấm dứt hợp đồng của người tiêu dùng.

Theo luật sư, không phải mọi trường hợp thay đổi phí đều bắt buộc doanh nghiệp phải lấy một văn bản chấp thuận riêng của từng khách hàng. Nếu ngay từ đầu hợp đồng hoặc điều kiện giao dịch chung đã quy định rõ cơ chế thu phí, mức phí hoặc cơ chế điều chỉnh phí và những điều khoản này phù hợp pháp luật, doanh nghiệp có thể thực hiện theo cơ chế mà khách hàng đã chấp nhận. 

Ngược lại, nếu khoản 6.600 đồng/tháng là một nghĩa vụ hoàn toàn mới, chưa được quy định trong hợp đồng hoặc điều kiện giao dịch chung mà khách hàng đã chấp nhận, thì việc doanh nghiệp chỉ gửi thông báo “từ ngày 1/8 sẽ thu phí” chưa chắc đã đủ để biến thông báo đơn phương thành thỏa thuận sửa đổi hợp đồng.

“Việc thu phí quản lý tài khoản không đương nhiên trái pháp luật, bởi pháp luật có thể cho phép doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thanh toán thu các khoản phí phù hợp. Vấn đề cần kiểm tra là khoản phí đó có được công bố, áp dụng đúng pháp luật và đúng quan hệ hợp đồng hay không”, luật sư Nguyễn Văn Đồng phân tích.

Doanh nghiệp cũng không thể chỉ dựa vào một thông báo đơn phương để mặc nhiên bổ sung nghĩa vụ trả tiền cho khách hàng đang có hợp đồng, nếu khoản phí mới chưa được thỏa thuận hoặc không có cơ chế thay đổi hợp lệ trong hợp đồng.

Tuy nhiên, luật sư lưu ý, không phải cứ không có một “nút bấm đồng ý” riêng của khách hàng thì việc thu phí đương nhiên trái luật. Cần xem xét toàn bộ hợp đồng ban đầu, điều kiện giao dịch chung, nội dung và thời điểm thông báo thay đổi, cơ chế để khách hàng từ chối hoặc chấm dứt dịch vụ cũng như bản chất pháp lý của ví điện tử được liên kết.

Đối với khách hàng là doanh nghiệp, cần có sự phân biệt về phạm vi bảo vệ. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chủ yếu bảo vệ chủ thể sử dụng dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt và không vì mục đích thương mại. Do đó, doanh nghiệp sử dụng tài khoản cho hoạt động kinh doanh có thể không thuộc phạm vi “người tiêu dùng” theo luật này. Khi đó, quan hệ giữa các bên cần được xem xét chủ yếu dưới góc độ hợp đồng, pháp luật dân sự, thương mại và pháp luật chuyên ngành.

Khoản phí này đã được thỏa thuận hợp pháp với khách hàng chưa?

Theo luật sư Nguyễn Văn Đồng, vấn đề cốt lõi trong việc VETC và ePass thu phí không nằm ở con số 6.600 đồng, mà là khoản phí này đã được thỏa thuận hợp pháp với khách hàng hay chưa.

Nếu cơ chế thu phí đã được quy định rõ từ trước thì việc thu có cơ sở. Ngược lại, nếu đây là một nghĩa vụ tài chính hoàn toàn mới được áp đặt lên hợp đồng đang thực hiện mà không có căn cứ sửa đổi hợp đồng phù hợp, doanh nghiệp có thể đối mặt với những vấn đề pháp lý đáng kể dưới góc độ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và pháp luật về hợp đồng.

TS Đặng Minh Tân, giảng viên Trường Đại học Giao thông Vận tải cho rằng, việc thu phí cần hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp cung cấp và người sử dụng. Doanh nghiệp có thể thu phí để bù đắp chi phí vận hành, nhưng mức phí và cách thu cần hợp lý, công bằng và tương xứng với tần suất sử dụng dịch vụ.

Theo ông, người sử dụng thường xuyên có thể trả phí tương ứng với mức độ sử dụng, người dùng ít nên trả ít hơn, còn trường hợp không sử dụng dịch vụ cần được xem xét có phải trả phí hay không.

“Việc thu phí, nếu có, cần bảo đảm hợp lý, công bằng và tương xứng với mức độ sử dụng dịch vụ. Người sử dụng nhiều trả nhiều, sử dụng ít trả ít, còn người không sử dụng thì cần xem xét để không phải chịu khoản phí không tương ứng với lợi ích nhận được”, ông Tân nhấn mạnh.

Theo vietnamfinance.vn

An Giang mở rộng thị trường, nâng chất lượng cho sản phẩm OCOP

An Giang đang chuyển trọng tâm phát triển OCOP từ gia tăng số lượng sang nâng cao chất lượng, mở rộng thị trường và tăng cường chuyển đổi số. Hàng loạt hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu và đưa sản phẩm vào các kênh phân phối hiện đại đang mở thêm đầu ra cho đặc sản địa phương.

Miễn, giảm thuế có phải là giải pháp tối ưu để doanh nghiệp lớn lên?

Nếu hình dung đất nước như một “tập đoàn kinh tế” lớn, thì doanh nghiệp và hộ kinh doanh chính là khối trực tiếp tạo ra doanh thu, việc làm và nguồn thu ngân sách. Tuy nhiên, việc miễn, giảm thuế có phải là giải pháp tối ưu để “tập đoàn kinh tế” này lớn lên?

Nối đà phục hồi cho doanh nghiệp SME

Đề xuất giảm 30% thuế phải nộp năm 2026-2027 là giải pháp tài chính kịp thời, giúp doanh nghiệp khối SME giảm chi phí vận hành, khơi thông dòng tiền để tái đầu tư. Đây là chia sẻ của TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội khi trao đổi với Báo Đầu tư Chứng khoán.

Cơ giới hóa đồng bộ mở đường cho nông nghiệp hiện đại

Cơ giới hóa đang tạo chuyển biến rõ nét trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt ở khâu làm đất và thu hoạch lúa. Tuy nhiên, mức độ cơ giới hóa giữa các ngành hàng còn chênh lệch, trong khi nhiều khâu sản xuất và sau thu hoạch vẫn phụ thuộc vào lao động thủ công.

Cải cách thể chế tài chính, mở khóa nguồn lực tăng trưởng

Muốn đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn mới, Việt Nam không chỉ cần thêm vốn mà quan trọng hơn là phải “mở khóa” các nguồn lực đang bị kìm hãm bởi những rào cản thể chế, trong đó có thể chế kinh tế nói chung và thể chế tài chính nói riêng.

Giữ lợi thế nông nghiệp trước thách thức khí hậu cực đoan

Nguy cơ siêu El Nino đang trở thành phép thử lớn đối với nông nghiệp Việt Nam khi thiếu nước, hạn hán và xâm nhập mặn được dự báo gia tăng trong giai đoạn cuối năm 2026 và kéo dài sang năm 2027. Việt Nam cần tạo nền tảng căn bản để chuyển hóa từ ứng phó thụ động sang quản trị rủi ro chủ động, qua đó góp phần bảo vệ mục tiêu phát triển.

Video