Ứng phó với thép nhập khẩu tăng mạnh

Thép nhập khẩu, đặc biệt là thép cuộn cán nóng tràn vào Việt Nam trong thời gian qua đã vượt qua công suất 6,7 triệu tấn sản xuất trong nước.
Ảnh minh họa: AFP/TTXVN

Đây là điều chưa từng có với ngành thép khi Việt Nam hầu như đã tự chủ được về mặt hàng này. Trước tình trạng này, nhiều doanh nghiệp sản xuất nội địa đã đề xuất mở điều tra phòng vệ thương mại liên quan đến việc chống bán phá giá với các mặt hàng thép cuộn cán nóng, song cũng còn nhiều ý kiến phản đối từ các đơn vị nhập khẩu. Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này dưới góc nhìn phòng vệ thương mại, phóng viên TTXVN đã có trao đổi với TS. Hoàng Ngọc Thuận - Trường Đại học Ngoại thương.

Ông có đánh giá thế nào về việc thực hiện các biện pháp phòng vệ thương mại trên thế giới hiện nay, cũng như ở trong nước trước hàng nhập khẩu từ nước ngoài, thưa ông?

Thứ nhất, theo Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, có 3 biện pháp phòng vệ thương mại là chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ. Có thể thấy rằng, chống bán phá giá là biện pháp phòng vệ thương mại được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới hiện nay.

Kể từ khi WTO được thành lập năm 1995, cho tới hết tháng 6/2023, đã có 4.521 biện pháp chống bán phá giá được các thành viên WTO áp dụng (với tư cách là nước nhập khẩu); trong đó, Ấn Độ áp dụng nhiều nhất với 780 biện pháp, thứ hai là Hoa Kỳ 628, rồi tới Liên minh châu Âu với 363 biện pháp. 

Ở chiều ngược lại, với tư cách là nước xuất khẩu, Trung Quốc là đối tượng bị áp thuế nhiều nhất với 1.183 vụ việc, rồi tới Hàn Quốc với 328 vụ việc, thứ ba là Đài Loan (Trung Quốc) với 231 vụ việc.

Các thành viên WTO cũng đã áp dụng 409 biện pháp chống trợ cấp, trong đó Hoa Kỳ dẫn đầu với 215 biện pháp (hơn 50%). Ở chiều ngược lại, Trung Quốc là đối tượng bị áp thuế chống trợ cấp nhiều nhất với 150 vụ việc, sau đó Ấn Độ với 66 vụ.

Thứ hai, Việt Nam gia nhập WTO sau một số nước ASEAN và châu Á khoảng 10 năm. Chúng ta bắt đầu khởi xướng điều tra biện pháp phòng vệ thương mại lần đầu tiên đối với hàng hoá nhập khẩu vào năm 2009 (mặt hàng kính nổi). Tính đến hết năm 2023, Việt Nam đã khởi xướng gần 20 vụ việc điều tra chống bán phá giá trong tổng số gần 30 vụ việc phòng vệ thương mại. So với các quốc gia khác, mức độ áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại; trong đó, có biện pháp chống bán phá giá của Việt Nam là tương đối ít.

Áp thuế với thép cuộn cán nóng, các ý kiến từ hai phía doanh nghiệp nhập khẩu và xuất khẩu đang trái chiều. Vậy với góc độ chuyên gia, ông có đánh giá thế nào với trường hợp cụ thể này?

Các biện pháp phòng vệ thương mại sẽ có tác động khác nhau với các đối tượng khác nhau. Những đối tượng thường phản đối việc khởi xướng điều tra và áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại là các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu nước ngoài (tại nước xuất khẩu), các doanh nghiệp nhập khẩu trong nước và các doanh nghiệp hạ nguồn/người tiêu dùng sản phẩm đó. Ngược lại, các nhà sản xuất nội địa (tại nước nhập khẩu) sẽ là những đối tượng ủng hộ mạnh mẽ các biện pháp này.

Tôi cho rằng, cần tránh lạm dụng các biện pháp phòng vệ thương mại để bảo hộ các ngành sản xuất nội địa, nhưng nếu bằng chứng cho thấy, có hành vi bán phá giá của hàng nhập khẩu, Việt Nam hoàn toàn có thể khởi xướng điều tra để bảo vệ hợp pháp ngành sản xuất trong nước.

Theo ông, nếu việc áp thuế được tiến hành sẽ có ảnh hưởng như thế nào với nền công nghiệp thép, cũng như doanh nghiệp ngành này?

Ngành thép là ngành quan trọng vì đây là sản phẩm đầu vào cho nhiều ngành khác, đặc biệt liên quan tới công nghiệp quốc phòng. Nếu ngành sản xuất nội địa bị triệt tiêu và sản phẩm thép cuộn cán nóng HRC phải phụ thuộc nhập khẩu thì sẽ là điều nguy hiểm.

Việc có khởi xướng điều tra hay không và sau khi điều tra có áp thuế phòng vệ thương mại đối với thép HRC hay không sẽ phụ thuộc vào kết luận điều tra nếu có. 

Trong 1 vụ việc điều tra chống bán phá giá cần 3 điều kiện bắt buộc để áp thuế chống bán phá giá. Đó là, phải có hành vi bán phá giá của hàng nhập khẩu; có thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể đối với ngành sản xuất trong nước, hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước; phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bán phá giá thép HRC và thiệt hại của ngành sản xuất nội địa.

Nhiều ý kiến doanh nghiệp lo ngại, nếu áp thuế, doanh nghiệp có thể phải nhập khẩu với giá cao, thậm chí thiếu nguồn cung. Ý kiến của ông về vấn đề này thế nào, thưa ông?

 

   Trước tiên, việc sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại nhằm bảo vệ hợp pháp ngành sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu có thể tạo ra những lợi thế nhất định cho ngành sản xuất trong nước.

Biện pháp phòng vệ thương mại là công cụ nhằm mục đích bảo vệ doanh nghiệp sản xuất nội địa trước các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nhập khẩu. Nếu không có sự bảo vệ hợp lý và hợp pháp này, ngành sản xuất trong nước khó có thể cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu và dẫn tới nguy cơ bị triệt tiêu. 

Phòng vệ thương mại chỉ là biện pháp tạm thời trong một thời gian ngắn và có sự điều chỉnh thường xuyên. Vì vậy, sẽ không thể tạo ra lợi thế lâu dài cho ngành sản xuất trong nước. 

Phòng vệ thương mại cũng chỉ được áp dụng ở mức độ hợp lý nhằm loại bỏ hành vi cạnh tranh “không lành mạnh” của hàng hóa nước ngoài (bán phá giá hoặc được trợ cấp), chứ không nhằm mục đích hạn chế tuyệt đối hàng hóa nhập khẩu. Vì vậy, vẫn tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng và hợp lý trên thị trường.

Trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất trong nước, nhờ có biện pháp phòng vệ thương mại, để đạt được vị trí độc quyền hoặc thống lĩnh trên thị trường và lạm dụng vị trí này để tăng giá bán hay có những chính sách bán hàng gây ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh thì hành vi đó sẽ được điều chỉnh và xử lý bởi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam.

Cuối cùng cần xem Việt Nam còn nhập thép cuộn cán nóng từ những quốc gia nào ngoài các quốc gia đang bị đề xuất khởi xướng điều tra chống bán phá giá. 

Căn cứ vào số liệu giai đoạn 2021-2023, Việt Nam nhập khẩu 7,5 triệu tấn thép HRC năm 2021, 8 triệu tấn năm 2022 và 9,6 triệu tấn năm 2023. Mỗi năm, lượng nhập khẩu từ các quốc gia khác (ngoài các quốc gia đang bị đề xuất) đều trên 3 triệu tấn tức là hơn 30% lượng nhập khẩu vào Việt Nam. Đây là minh chứng cho thấy, các nhà nhập khẩu và doanh nghiệp nội địa có nhu cầu sử dụng thép cuộn cán nóng vẫn có thể nhập từ các quốc gia khác.

Xin cảm ơn ông!

 

 

Theo Báo Tin tức

Xây dựng bộ nhận diện hình ảnh quốc gia Việt Nam

Phó Thủ tướng Mai Văn Chính đã ký Quyết định số 173/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. aa Zalo

Kinh tế - xã hội tiếp tục đạt kết quả tích cực ngay từ tháng đầu năm

Thời gian tới, các bộ, ngành, địa phương cần tập trung quán triệt, triển khai đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Đây là các nội dung nằm trong nhóm nhiệm vụ trọng tâm được Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ tại phiên họp Chính phủ với các địa phương tháng 1/2026 diễn ra ngày 4/2.

“Chìa khóa” thúc đẩy điện gió ngoài khơi

Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng nhanh và dư địa năng lượng truyền thống dần thu hẹp, dù được kỳ vọng trở thành trụ cột mới, tuy nhiên, việc phát triển điện gió ngoài khơi vẫn còn đó những tồn tại.

Tăng tốc hút vốn tư nhân cho kinh tế số

Theo báo cáo thường niên của Google, Temasek và Bain & Company, vốn tư nhân đầu tư vào nền kinh tế số Đông Nam Á trong 6 tháng đầu năm 2025 đạt 7,7 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước.

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm phát: Mục tiêu kép phải đạt được

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đã và đang theo đuổi những mục tiêu được đánh giá là “đầy tham vọng”: trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và đạt phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050. Điều này cho thấy quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam gắn chặt với bài toán khí hậu.

Sẵn sàng cho chu kỳ tăng trưởng mới

Bước sang năm 2026 – năm bản lề khởi đầu chu kỳ tăng trưởng mới giai đoạn 2026–2030, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng bền vững, dựa trên năng suất, khoa học – công nghệ và chất lượng thể chế, qua đó tạo nền tảng hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Video