Tỷ lệ nội địa hóa cực thấp kéo giảm cạnh tranh ô tô Việt

Tỷ lệ nội địa hóa thấp, các linh kiện, phụ tùng để sản xuất, lắp ráp ô tô phải nhập khẩu từ nước ngoài... là những nguyên nhân khiến cho ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước có năng lực cạnh tranh kém hơn (đặc biệt về giá thành) so với ô tô nhập khẩu nguyên chiếc từ ASEAN.

Tỷ lệ nội địa hóa cực thấp kéo giảm cạnh tranh ô tô Việt

Chi phí sản xuất cao hơn 20%

Mới đây, Bộ Công Thương đã có báo cáo gửi đại biểu Quốc hội về một số nội dung liên quan đến nhóm vấn đề thuộc lĩnh vực Công Thương tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV, trong đó phân tích khá rõ câu chuyện ô tô Việt kém cạnh tranh với xe ngoại nhập, nhất là từ khu vực ASEAN.

Bộ Công Thương đánh giá: Nhìn chung tỷ lệ nội địa hóa đối với xe thương mại trong nước cơ bản đáp ứng các mục tiêu đề ra tại Chiến lược, Quy hoạch phát triển ngành ô tô, tuy nhiên đối với ô tô con, tỷ lệ nội địa hóa lại rất thấp.

Cụ thể, các chủng loại xe tải nhẹ dưới 7 tấn, xe khách từ 25 chỗ ngồi trở lên, xe chuyên dụng sản xuất trong nước đã đạt tỷ lệ nội địa hóa cao, đạt mục tiêu đề ra, đáp ứng cơ bản thị trường nội địa (tỷ lệ nội địa hóa đạt từ 45-55%, vượt chỉ tiêu so với quy hoạch ngành ô tô đề ra).

Tuy nhiên, tỷ lệ nội địa hoá đối với xe cá nhân đến 9 chỗ ngồi (ô tô con) mới đạt bình quân khoảng 7-10% trong khi mục tiêu đề ra là phải đạt 30 - 40% vào năm 2020, trong đó, Thaco đạt 15-18%, Toyota Việt Nam đạt 37% đối với riêng dòng xe Innova. Thực tế này cho thấy mục tiêu đề ra tại Quy hoạch ngành ô tô chắc chắn sẽ không đạt được.

Các sản phẩm đã được nội địa hóa, mang hàm lượng công nghệ thấp gồm săm, lốp ô tô, ghế ngồi, gương, kính, bộ dây điện, ắc-quy, sản phẩm nhựa…

Bộ Công Thương nêu rõ, hàng năm, Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 2 - 3,5 tỷ USD các linh kiện, phụ tùng phục vụ cho sản xuất lắp ráp và sửa chữa ô tô, chủ yếu là các nhóm sản phẩm công nghiệp hỗ trợ (CNHT) có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao. Do đó, tỷ lệ nội địa hóa trong ngành ô tô của Việt Nam thấp hơn so với các quốc gia đi trước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia (trung bình 65 – 70%).

Bên cạnh đó, các linh kiện, phụ tùng để sản xuất, lắp ráp ô tô phải nhập khẩu từ nước ngoài phải chịu thêm các chi phí đóng gói, vận chuyển, lưu kho, bảo hiểm… làm ảnh hưởng đến giá thành của xe sản xuất, lắp ráp trong nước.

"Điều này là một trong những nguyên nhân trực tiếp khiến chi phí sản xuất ô tô tại Việt Nam cao hơn từ 10-20% so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia. Vì vậy, ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước có năng lực cạnh tranh kém hơn (đặc biệt về giá thành) so với ô tô nhập khẩu nguyên chiếc từ ASEAN", Bộ Công Thương nhận định.

Công nghiệp hỗ trợ ô tô rất yếu kém

Tại sao tỷ lệ nội địa hóa trong ngành ô tô lại đì đẹt như vậy? Trả lời cho câu hỏi này, Bộ Công Thương phân tích: Các chính sách, chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô trong thời gian dài trước đây còn duy ý chí, chưa phù hợp với quy luật của thị trường; đề ra những mục tiêu tỷ lệ nội địa hóa quá cao so với dung lượng thị trường của ngành.

Cùng với đó, quy mô thị trường ô tô Việt Nam còn quá nhỏ (thấp nhất trong 5 nước có ngành công nghiệp ô tô tại ASEAN). Sản lượng ô tô từ 9 chỗ trở xuống lắp ráp trong nước mới chỉ đạt khoảng 200.000 xe/năm. Con số này lại chia cho hàng chục mẫu xe khác nhau. Vì vậy, hầu hết các mẫu xe đều có sản lượng thấp, rất khó khăn cho việc nâng cao tỷ lệ nội địa hóa.

Đáng chú ý, theo Bộ Công Thương, năng lực doanh nghiệp CNHT ngành ô tô trong nước còn rất yếu kém, không đáp ứng được các yêu cầu khắt khe về cung ứng linh phụ kiện của các hãng ô tô toàn cầu có trụ sở lắp ráp tại Việt Nam.

Mặt khác, tập quán kinh doanh của các doanh nghiệp toàn cầu ngành ô tô thường sử dụng các doanh nghiệp đã từng cung ứng sản phẩm CNHT trong chuỗi sản xuất của họ hoặc các doanh nghiệp cùng quốc tịch, ít tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam trong việc tham gia chuỗi giá trị.

Một yếu tố không thể không kể đến là Việt Nam chưa chủ động được các nguyên vật liệu đầu vào cơ bản phục vụ sản xuất linh phụ kiện cho ngành ô tô. Khoảng 80 - 90% nguyên liệu chính phục vụ sản xuất linh kiện như thép hợp kim, hợp kim nhôm, hạt nhựa, cao su kỹ thuật cao... hiện vẫn phải nhập khẩu.

Trong thời gian tới, Bộ Công Thương xác định sẽ duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước; gia tăng sản lượng sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước, tập trung vào một số dòng xe chiến lược để tạo thị trường cho CNHT ngành ô tô phát triển; bảo vệ thị trường cho CNHT ngành ô tô bằng các hàng rào kỹ thuật, thuế quan phù hợp cam kết quốc tế và thực trạng ngành công nghiệp ô tô Việt Nam.

Bên cạnh đó, điều chỉnh chính sách về thuế tiêu thụ đặc biệt theo hướng miễn giảm cho tỷ lệ giá trị nội địa đối với ô tô sản xuất trong nước nhằm khuyến khích các doanh nghiệp gia tăng nội địa hóa; miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất sản phẩm CNHT ngành ô tô...

Theo Thanh Nguyễn (Báo hải quan)

GDP quý II/2026 tăng trưởng khá, ước đạt 8,39%

Tại Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026 diễn ra sáng 3/7, Cục Thống kê, Bộ Tài chính cho biết tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2026 đạt mức tăng trưởng khá, với tốc độ tăng ước đạt 8,39% so với cùng kỳ năm trước.

Định hình diện mạo thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm

Quy hoạch Thủ đô với tầm nhìn 100 năm đã được công bố cùng nhiều mục tiêu phát triển dài hạn. Điều được nhấn mạnh tại hội nghị vừa diễn ra tại Hà Nội không chỉ là những con số hay định hướng, mà còn là yêu cầu chuyển hóa quy hoạch thành các dự án và kết quả phát triển cụ thể.

Việt Nam có khả năng sản xuất 1 triệu thùng nhiên liệu hàng không bền vững SAF mỗi ngày

Đánh giá triển vọng của ngành SAF Việt Nam trong giai đoạn 2030-2050, bà Sharmine Tan, Giám đốc Phát triển bền vững và Chính sách khu vực Đông Nam Á của Boeing cho rằng với nguồn phụ phẩm từ lúa gạo và sắn phong phú, Việt Nam có khả năng sản xuất khoảng 1 triệu thùng SAF mỗi ngày.

Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam không phải là 'Dubai tiếp theo'

Theo VinaCapital, VIFC được định vị là kênh thu hút dòng vốn quốc tế phục vụ nhu cầu phát triển của nền kinh tế, thay vì trở thành trung tâm quản lý tài sản toàn cầu như mô hình Dubai. Với nhu cầu vốn đầu tư ước tính khoảng 1,5 nghìn tỷ USD, VIFC được kỳ vọng sẽ đóng vai trò kết nối dòng vốn ngoại với các dự án hạ tầng và công nghiệp trọng điểm của Việt Nam.

Video