Tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống có thể lên đến 8,86%

Theo Ngân hàng Nhà nước, nếu tính cả khoản nợ xấu do VAMC quản lý, nợ xấu nội bảng và nợ tiềm ẩn thì tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống có khả năng lên đến 8,86%.

Trong dự thảo lần 1 liên quan đến Luật hỗ trợ tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đưa ra nhiều tồn tại, hạn chế về hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD).

Cụ thể, hiệu quả kinh doanh của các TCTD chưa cao do hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn, áp lực xử lý nợ xấu, chi phí dự phòng rủi ro lớn.

Mặc dù tỷ lệ nợ xấu nội bảng đã được kiểm soát ở mức dưới 3% nhưng nếu tính cả khoản do VAMC quản lý, nợ xấu nội bảng và nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu thì tỷ lệ nợ xấu có khả năng lên đến 8,86%.

[caption id="attachment_52736" align="aligncenter" width="434"] Xử lý nợ xấu là vấn đề quan trọng mục tiêu trong giai đoạn 2016 - 2020 (Ảnh minh họa).[/caption]

NHNN cũng đánh giá việc xử lý nợ xấu đã có kết quả bước đầu khả quan nhưng pháp luật về xử lý nợ xấu cũng như xử lý tài sản bảo đảm còn nhiều bất cập, thiếu cơ chế đặc thù cho VAMC hoạt động. Tổng kết một số kết quả đáng chú ý trong vấn đề xử lý nợ xấu từ năm 2011 đến nay, NHNN cũng đã có những thành công nhất định.

Thứ nhất, các TCTD yếu kém được nhận diện và được cơ cấu lại, không để xảy ra đổ vỡ TCTD ngoài tầm kiểm soát, đảm bảo giữ vững sự ổn định, an toàn của hệ thống các TCTD, tài sản của Nhà nước, nhân dân được bảo đảm an toàn.

Thứ hai, hoạt động sáp nhập, hợp nhất diễn ra trên cơ sở tự nguyện, chủ yếu sử dụng các nguồn lực của xã hội và không sử dụng trực tiếp tiền của ngân sách nhà nước. Số lượng TCTD đã giảm được khoảng 22 tổ chức.

Thứ ba, sở hữu chéo, đầu tư chéo được xử lý một bước; tình trạng cổ đông/nhóm cổ đông lớn thao túng ngân hàng được xử lý một bước cơ bản.

Thứ tư, các TCTD đã tích cực nâng cao chất lượng tài sản, kiểm soát chất lượng tín dụng và xử lý nợ xấu, đặc biệt là nỗ lực tự xử lý nợ xấu. Tính đến 31/12/2015, các TCTD đã xử lý được 493,09 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Đến cuối tháng 31/12/2016, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống TCTD là 2,46%.

Bên cạnh đó, NHNN cũng nhận diện một số nguyên nhân chính dẫn đến những bất cập và hạn chế còn tồn tại trong việc cơ cấu tại hệ thống TCTD là do khuôn khổ pháp lý cơ chế chính sách về xử lý TCTD yếu kém và xử lý nợ xấu còn chưa hoàn thiện.

Cụ thể là thẩm quyền của NHNN khi xử lý các TCTD yếu kèm còn chưa đầy đủ, tiến trình phục hồi và cơ cấu lại các TCTD còn khó khăn do chưa có giải pháp hỗ trợ phù hợp với đặc thù của từng TCTD. Cùng với đó, quy luật của pháp luật về việc xử lý tài sản cụ thể về quyền thu giữ tài sản, quyền nhận tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất của VAMC, quyền xử lý tài sản là dự án bất động sản,...

Do vậy, NHNN cho rằng việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về xử lý tổ chức tín dụng yếu kém và xử lý nợ xấu theo hình thức ban hành Luật riêng về xử lý tổ chức tín dụng yếu kém và xử lý nợ xấu là giải pháp quan trọng và cần thiết phải thực hiện. Làm được điều này thì mới có được bước đột phá trong việc xử lý nợ xấu trong giai đoạn 2016-2020.

Theo Diệp Bình/Vietnambiz

Tags:

Vốn cho bất động sản: Dòng tiền ưu tiên dự án an toàn, nhu cầu thực

Trong bối cảnh ngân hàng hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, các ngành ưu tiên và các động lực tăng trưởng mới như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và khoa học - công nghệ, dòng tiền vào bất động sản được định hướng theo hướng chọn lọc hơn, ưu tiên nhu cầu thực và các dự án có tính thanh khoản cao.

NHNN rà soát, đẩy mạnh phân cấp, cắt giảm thủ tục hành chính trong lĩnh vực ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đang tiến hành rà soát lớn đối với thủ tục hành chính trong lĩnh vực ngân hàng, với trọng tâm là cắt giảm thời gian xử lý hồ sơ, đơn giản hóa giấy tờ và phân cấp mạnh hơn cho NHNN chi nhánh khu vực. Hàng loạt dự thảo thông tư vừa được công bố cho thấy xu hướng chung là chuyển nhiều thủ tục từ cấp Trung ương về địa phương, đồng thời giảm đáng kể thời gian giải quyết trong các lĩnh vực như quản lý ngoại hối, cấp phép ngân hàng, thanh toán không dùng tiền mặt, fintech và tổ chức tín dụng hợp tác xã…

Phát triển KHCN&ĐMST, tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi số, hiện đại hóa hoạt động ngân hàng

Ngày 18/5 hằng năm là Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, góp phần tôn vinh đội ngũ trí thức, khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) trong phát triển đất nước. Đối với ngành Ngân hàng, đây cũng là động lực thúc đẩy chuyển đổi số, hiện đại hóa hoạt động và xây dựng hệ sinh thái tài chính số lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.

Ngân hàng số tăng tốc, mở rộng không gian phát triển kinh tế số

Chuyển đổi số đang trở thành một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng của ngành Ngân hàng cũng như nền kinh tế Việt Nam. Nếu như vài năm trước, chuyển đổi số chủ yếu được nhìn nhận như một xu hướng công nghệ, thì đến nay, quá trình này đã bước sang giai đoạn phát triển mới, trở thành nền tảng cốt lõi để tái cấu trúc mô hình hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận tài chính và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

AI tái định hình ngành Ngân hàng: Thu hẹp phòng giao dịch, cắt giảm nhân sự

Từng có thời, độ phủ chi nhánh và phòng giao dịch được xem là biểu tượng sức mạnh của một ngân hàng. Nhà băng nào sở hữu mạng lưới rộng, hiện diện ở nhiều tuyến phố trung tâm, đồng nghĩa với vị thế lớn mạnh và khả năng tiếp cận khách hàng vượt trội. Nhưng chỉ sau vài năm chuyển đổi số bùng nổ, thực tế ấy đang đảo chiều.

Hoàn thiện “lá chắn” an ninh tài chính số

Trong kỷ nguyên AI, cùng với đà tăng tốc chuyển đổi số của ngành ngân hàng, việc xây dựng “lá chắn” an ninh tài chính số và củng cố niềm tin người dùng đang trở thành yêu cầu mang tính chiến lược.

Video