Thêm biện pháp cảnh báo CTCK khi tỷ lệ vốn khả dụng từ 150%-180%

Dự kiến sẽ có thêm biện pháp xử lý với các trường hợp không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính là UBCKNN đặt tổ chức kinh doanh chứng khoán (KDCK) vào tình trạng cảnh báo khi tỷ lệ vốn khả dụng từ 150%-180%.

Ngoài ra, SGDCK sẽ đình chỉ một phần hoạt động giao dịch của tổ chức KDCK không khắc phục được tình trạng kiểm soát sau 6 tháng hoặc tình trạng kiểm soát đặc biệt sau 2 tháng.

UBCKNN công bố dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 226/2010/TT-BTC ngày 31/12/2010 quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán (KDCK) không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính và Thông tư 165/2012/TT-BTC ngày 09/10/2012 sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư số 226/2010/TT-BTC.

ep heo

Dự thảo đã tách riêng các trường hợp tính vốn khả dụng của công ty chứng khoán và quản lý quỹ. Riêng với công ty chứng khoán, khoản giảm trừ khỏi vốn khả dụng có thêm giá trị ký quỹ, giá trị tài sản đảm bảo cho nghĩa vụ dân sự có thời hạn còn lại trên 90 ngày.

Trong đó, giá trị ký quỹ được định nghĩa là giá trị bằng tiền và/hoặc chứng khoán mà tổ chức KDCK sử dụng để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán của mình thông qua việc thực hiện đóng góp vào các quỹ hỗ trợ thanh toán của Trung tâm lưu ký chứng khoán, quỹ bù trừ của đối tác thanh toán trung tâm (trong giao dịch chứng khoán phái sinh), các khoản ký quỹ bằng tiền và giá trị bảo lãnh thanh toán của ngân hàng, chứng khoán hình thành từ hoạt động phòng ngừa rủi ro khi phát hành chứng quyền có bảo đảm.

Đáng chú ý, dự thảo có thêm biện pháp xử lý với các trường hợp không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính là UBCKNN đặt tổ chức KDCK vào tình trạng cảnh báo khi tỷ lệ vốn khả dụng từ 150%-180%. Tổ chức KDCK được ra khỏi diện cảnh báo khi tỷ lệ vốn khả dụng từ 180% trở lên trong 3 tháng liên tục.

Còn trường hợp đặt tổ chức KDCK vào tình trạng kiểm soát và kiểm soát đặc biệt phần lớn vẫn giữ nguyên như trước.

Trong đó, tổ chức KDCK vào tình trạng kiểm soát trong trường hợp tỷ lệ vốn khả dụng 120%-150% trong tất cả các báo cáo trong 3 tháng liên tục; hoặc tỷ lệ vốn khả dụng 120%-150% đã được kiểm toán; hoặc báo cáo kiểm toán đưa ra ý kiến không chấp thuận, từ chối đưa ra ý kiến, ý kiến ngoại trừ sẽ dẫn tới tỷ lệ vốn khả dụng từ 120%-150%. Sau 6 tháng, SGDCK sẽ đình chỉ một phần hoạt động giao dịch của tổ chức KDCK không khắc phục được tình trạng kiểm soát. Tổ chức KDCK ra khỏi tình trạng kiểm soát khi tỷ lệ vốn khả dụng từ 180% trở lên trong 3 tháng liên tục và tỷ lệ vốn khả dụng tại kỳ cuối cùng phải được kiểm toán chấp thuận.

Tổ chức KDCK vào tình trạng kiểm soát đặc biệt trong trường hợp tỷ lệ vốn khả dụng dưới 120%; hoặc không khắc phục được tình trạng kiểm soát trong 12 tháng; hoặc không thực hiện báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính trong 2 kỳ liên tiếp; hoặc báo cáo kiểm toán đưa ra ý kiến không chấp thuận, từ chối đưa ra ý kiến, ý kiến ngoại trừ sẽ dẫn tới tỷ lệ vốn khả dụng dưới 120%. Sau thời hạn 2 tháng bị đặt vào trường hợp kiểm soát đặc biệt, SGDCK sẽ đình chỉ một phần hoạt động giao dịch của tổ chức KDCK không khắc phục được tình trạng kiểm soát đặc biệt. Tổ chức KDCK ra khỏi tình trạng kiểm soát khi tỷ lệ vốn khả dụng từ 180% trở lên trong 3 tháng liên tục và tỷ lệ vốn khả dụng tại kỳ cuối cùng phải được kiểm toán chấp thuận.

Sau khi hết thời hạn kiểm soát đặc biệt, nếu tổ chức KDCK vẫn không khắc phục được tình trạng kiểm soát đặc biệt và có lỗ gộp (chỉ tiêu lợi nhuận chưa phân phối trên bảng cân đối kế toán) đạt mức 50% vốn điều lệ trở lên thì bị đình chỉ hoạt động.

Sau khi hết thời hạn kiểm soát đặc biệt, nếu tổ chức KDCK vẫn không khắc phục được tình trạng kiểm soát đặc biệt và có lỗ gộp (chỉ tiêu lợi nhuận chưa phân phối trên bảng cân đối kế toán) dưới 50% vốn điều lệ hoặc không bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác thì UBCKNN yêu cầu tổ chức kinh doanh chứng khoán tạm ngừng hoạt động.

Theo Uyên Minh - Vietstock

Tags:

Làn sóng IPO: Ánh hào quang ngày lên sàn và phép thử với nhà đầu tư

Năm 2025 chứng kiến sự bùng nổ hiếm thấy của hoạt động IPO trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Hàng loạt doanh nghiệp lớn thuộc nhiều lĩnh vực đồng loạt đưa cổ phiếu ra công chúng, tạo nên không khí sôi động sau thời gian dài trầm lắng. Tuy nhiên, phía sau ánh hào quang của những phiên chào sàn là sự phân hóa mạnh mẽ về diễn biến giá, đặt ra phép thử không nhỏ đối với bản lĩnh và tầm nhìn của nhà đầu tư.

Phân bổ vốn vào nhóm cổ phiếu nào?

Trong chiến lược chung, các nhà đầu tư (NĐT) có thể xem xét từng nhóm cổ phiếu triển vọng, liên quan đến tăng trưởng kinh tế, nâng hạng thị trường và đầu tư công.

Đầu tư công tăng tốc, nhóm ngành chứng khoán nào hưởng lợi trong chu kỳ 2026-2030?

Đầu tư công đang được đặt vào vị trí động lực trung tâm của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Trong giai đoạn tới, với quy mô kế hoạch khoảng 1,08 triệu tỷ đồng và kỳ vọng giải ngân đạt 85-90% trong năm 2026 và các năm tiếp theo, đầu tư công không chỉ là “liều thuốc kích thích” ngắn hạn, mà còn là phép thử về hiệu quả phân bổ nguồn lực, khả năng lan tỏa và năng lực chuyển hóa vốn đầu tư thành tăng trưởng thực chất trong chu kỳ 2026-2030.

Thị trường chứng khoán 2026: Kỳ vọng mới về cải cách thể chế và nâng hạng

Bước sang năm 2026, thị trường chứng khoán Việt Nam đứng trước một điểm chuyển quan trọng, khi những động lực đã nâng đỡ thị trường trong năm 2025 dần suy yếu, trong khi các kỳ vọng mới về cải cách thể chế, chính sách tiền tệ và nâng hạng thị trường bắt đầu được đặt lên bàn cân. Câu hỏi đặt ra không còn là thị trường có tăng hay không, mà là liệu dòng tiền có đủ bền bỉ để đi cùng những thay đổi mang tính cấu trúc, hay thị trường sẽ bước vào một giai đoạn sàng lọc khắc nghiệt hơn.

Video