Thấy gì từ cơ cấu cổ đông của PVcomBank?

Hiện Ngân hàng TMCP Đại Chúng VN (PVcomBank) có cổ đông lớn là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (chiếm 52%) và cổ đông chiến lược Morgan Stanley (chiếm 6,7%) còn lại là các cổ đông khác. Theo các chuyên gia, việc sở hữu 52% vốn của PVcomBank là trái với qui định của Luật các TCTD? 

Theo quy định tại điều 55 Luật các TCTD, một cổ đông là cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng; cổ đông là tổ chức không được vượt quá 15% vốn điều lệ, trừ khi sở hữu cổ phần để xử lý tổ chức tín dụng gặp khó khăn, sở hữu cổ phần nhà nước tại tổ chức tín dụng CPH, hoặc sở hữu cổ phần của nhà ĐTNN.

Ngoài ra, cũng theo luật này, cổ đông và người có liên quan của cổ đông đó không được có mức sở hữu gộp vượt quá 20% vốn điều lệ của TCTD.

Ông Cấn Văn Lực- Chuyên gia tài chính ngân hàng cho biết, việc qui định như trên là nhằm hạn chế tình trạng một nhóm tổ chức, cá nhân có thể thâu tóm một TCTD, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của công chúng gửi tiền, gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng.

Như vậy, nhìn từ cơ cấu cổ đông PVcombank, có thể thấy, việc nắm giữ 52% vốn tại PVcomBank có nhiều nguy cơ việc PVN có thể gián tiếp hay trực tiếp sở hữu ngân hàng. Điều này theo các chuyên gia nguy hiểm hơn là ngân hàng sở hữu DN. Rất nhiều DN và cả các tập đoàn kinh tế nhà nước đã và đang đóng vai trò chi phối ít nhất một ngân hàng. Khi DN sở hữu tỷ lệ cổ phần nhỏ ở ngân hàng thì mục tiêu chỉ là hưởng lợi từ khoản đầu tư nhưng khi DN có cổ phần lớn thì mục tiêu còn là sử dụng ngân hàng để huy động vốn dễ dàng hơn cho DN, lái nguồn vốn huy động theo hướng chủ DN muốn.

Vấn đề đặt ra ở đây là dù các ngân hàng đều có hội đồng tín dụng, ủy ban an toàn rủi ro... nhưng từ cấu trúc nội tại, bản thân các ngân hàng đã mất đi động cơ tự giám sát mình. Vì thế rủi ro nảy sinh mà hậu quả rõ nhất là tình hình nợ xấu như hiện nay.

Cùng với đó, Luật các TCTD thể hiện rõ quan điểm của Chính phủ là không cho phép thành lập ngân hàng tư nhân và hoạt động của từng ngân hàng phải mang tính đại chúng hơn các DN kinh doanh trong lĩnh vực khác để bảo đảm sự minh bạch.

 Ngay tại thông tư số 06/2015/TT-NHNN, qui định chậm nhất là ngày 31-12-2015, tỷ lệ sở hữu của cổ đông, nhóm cổ đông có liên quan tại tổ chức tín dụng phải đảm bảo tuân thủ quy định tại Luật các TCTD trừ các trường hợp sở hữu cổ phần vượt giới hạn đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép hoặc được xử lý theo phương án cơ cấu lại đã được NHNN phê duyệt.

Kể từ ngày thông tư có hiệu lực thi hành, các ngân hàng không được cấp tín dụng hoặc cấp tín dụng mới (trong trường hợp đã cấp tín dụng) cho cổ đông, cổ đông trong nhóm cổ đông có liên quan đang sở hữu cổ phần vượt giới hạn hoặc người có liên quan của các cổ đông đó.

Quy định này được xem là nhằm nỗ lực giải quyết tình trạng nhiều cổ đông có tỷ lệ nắm giữ cổ phần chi phối tại ngân hàng đã tận dụng vốn của ngân hàng này cho những mục đích đầu tư – kinh doanh dễ gây rủi ro phát sinh nợ xấu, gây mất vốn cho ngân hàng như trường hợp đại án Ocenbank là một ví dụ?

Chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu nhận định, PVN cũng buộc phải thoái vốn gấp tại PVcomBank, bởi sở hữu trên 52% vốn tại một ngân hàng là trái với qui định của Luật các TCTD như đã phân tích ở trên. Nếu không giải quyết nhanh vấn đề sở hữu chéo này rất nhiều hệ luỵ xảy ra...

Tuy nhiên, để PVcomBank có thể tìm được nhà đầu tư thay thế PVN  trong bối cảnh hiện nay không phải việc dễ dàng. Vì thế, ngày Thủ tướng Chính phủ đã chấp thuận tiếp tục thực hiện tái cơ cấu PVcomBank giai đoạn 2016 - 2020 và NHNN sẽ tiếp nhận đại diện chủ sở hữu phần vốn của PVN tại ngân hàng này sau khi hoàn thành Đề án tái cơ cấu PVcomBank (Đề án này đã được NHNN phê duyệt chính thức vào ngày 3/6/2016).

Trong khi chờ tái cơ cấu PVN bắt buộc phải thoái vốn khỏi PVcomBank. Đây sẽ là thách thức không nhỏ đối với PVcomBank- một ngân hàng nhỏ  trong bối cảnh cạnh tranh thị phần ngày càng gay gắt nhất là khi cổ đông tiềm lực như PVN phải rời đi…Vậy điều gì đang chờ đợi PVcomBank?

Tags:

Nam A Bank xác lập vị thế thành viên chiến lược tại VIFC – HCMC qua ba hợp tác chiến lược

Ngay sau khi chính thức trở thành nhà đầu tư chiến lược của Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC - HCMC), Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank - HOSE: NAB) đã triển khai ký kết hàng loạt thỏa thuận hợp tác chiến lược nhằm triển khai các giải pháp thiết thực, cụ thể hóa vai trò và cam kết của mình trong tiến trình xây dựng một trung tâm tài chính xanh, hiện đại và hội nhập.

Nam A Bank chung tay cùng kiều bào phát triển đất nước thịnh vượng, hạnh phúc

Trong dòng chảy hội nhập toàn cầu, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Thông qua chuỗi hoạt động văn hóa – kết nối – hợp tác trong khuôn khổ Xuân Quê Hương 2026, Nam A Bank cùng các đối tác đã khẳng định vai trò cầu nối kiều bào, chung tay khơi dậy khát vọng cống hiến và kiến tạo một Việt Nam vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.

Chợ Tết và những sáng tạo trong sản phẩm, dịch vụ ngân hàng

Nhìn ở góc độ mua bán trao đổi và thanh toán tại các chợ truyền thống cũng như siêu thị và trung tâm mua sắm dịp Tết, chúng ta cảm nhận nhiều sự khác biệt trong thanh toán, chi trả của người dân – được mang lại bởi các sản phẩm dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của thời đại số.

Ngân hàng đa dạng giải pháp hỗ trợ SME

Theo WB, đến năm 2030, Việt Nam được dự báo có khoảng 2,4 triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), chiếm hơn 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Với vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế, khu vực SME đang trở thành phân khúc trọng tâm trong chiến lược tăng trưởng tín dụng của nhiều ngân hàng thương mại.

Tạo dư địa phát triển cho thuê tài chính

Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV, đang có nhu cầu lớn về nguồn vốn trung, dài hạn để đầu tư máy móc, thiết bị, đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất, trong khi khả năng cân đối vốn tự có còn hạn chế.

Năm 2025, tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai tăng 15,92%

Số liệu chính thức về hoạt động tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai cho thấy, kết thúc năm 2025, tín dụng khu vực này đạt 5.806,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,92% so với năm 2024, phản ánh tốc độ tăng trưởng cao gắn liền với kết quả tăng trưởng kinh tế - xã hội khu vực cũng như cơ chế chính sách, điều hành chính sách tiền tệ tín dụng của Ngân hàng Nhà nước.

Video