Tài sản của các TCTD chính thức vượt 8 triệu tỷ đồng

Tổng tài sản của toàn hệ thống TCTD tiếp tục tăng mạnh hơn 198 nghìn tỷ đồng trong tháng 9, chính thức vượt ngưỡng 8 triệu tỷ đồng. Vốn tự có, vốn điều lệ cũng tăng.

[caption id="attachment_41052" align="aligncenter" width="660"]tai-san-cua-cac-tctd Thanh khoản của hệ thống hiện đang rất dồi dào nhờ nguồn tiền gửi tiết kiệm từ dân cư [/caption]

Tài sản của tất cả các khối đều tăng

Theo số liệu thống kê của NHNN, tính đến 30/9/2016 tổng tài sản của toàn hệ thống TCTD đạt 8.091.355 tỷ đồng, tăng 198.158 tỷ đồng so với cuối tháng 8 và tăng 772.042 tỷ đồng (tương đương tăng 10,55%) so với cuối năm 2015.

Nguyên nhân khiến tài sản của hệ thống tăng mạnh trong tháng 9 là do tài sản của tất cả các khối đều tăng. Trong đó tăng mạnh nhất là khối NHTM Nhà nước, khi tài sản của khối này đã tăng thêm 94.538 tỷ đồng lên 3.690.463 tỷ đồng. Đứng thứ hai về mức tăng là khối NHTMCP với việc tài sản tăng thêm 70.438 tỷ đồng lên 3.198.341 tỷ đồng.

Sau khi giảm 15.409 tỷ đồng trong tháng 8, đến tháng 9, tài sản của khối ngân hàng liên doanh – nước ngoài đã tăng trở lại 26.350 tỷ đồng, đạt 826.789 tỷ đồng, xếp thứ 3 về mức độ tăng.

Trong tháng tài sản của khối Công ty tài chính – cho thuê cũng tiếp tục tăng 2.117 tỷ đồng lên 103.851 tỷ đồng; Ngân hàng chính sách tăng 2.344 tỷ đồng lên 157.753 tỷ đồng; Ngân hàng Hợp tác tăng 1.408 tỷ đồng lên 25.673 tỷ đồng; và hệ thống QTDND tăng 963 tỷ đồng lên 88.486 tỷ đồng.

Nếu xét về giá trị tuyệt đối, khối NHTM Nhà nước vẫn đang dẫn đầu về giá trị tài sản đạt 3.690.463 tỷ đồng; đứng thứ hai là khối NHTMCP đạt 3.198.341 tỷ đồng; khối ngân hàng liên doanh – nước ngoài đứng thứ 3 với tổng tài sản 826.789 tỷ đồng.

Vốn tự có, vốn điều lệ cũng tăng mạnh

Bên cạnh tổng tài sản, vốn tự có, vốn điều lệ của toàn hệ thống cũng duy trì được đà tăng trưởng trong tháng 9.

Theo đó, đến cuối tháng 9, vốn tự có của toàn hệ thống đạt 617.538 tỷ đồng, tăng 4.108 tỷ đồng so với cuối tháng trước và tăng 39.518 tỷ đồng (tương đương tăng 6,84%) so với cuối năm năm 2015.

Trong tháng, ngoại trừ vốn tự có của Ngân hàng Hợp tác không thay đổi, các khối còn lại đều tăng.

Trong đó, tăng mạnh nhất là khối NHTM Nhà nước khi vốn tự có của khối này tăng thêm 2.035 tỷ đồng lên 218.362 tỷ đồng. Đứng thứ hai về mức độ tăng là khối ngân hàng liên doanh – nước ngoài khi vốn tự có tăng thêm 880 tỷ đồng lên 127.341 tỷ đồng.

Vốn tự có của khối NHTMCP cũng tăng thêm 677 tỷ đồng lên 249.213 tỷ đồng, xếp thứ ba về mức độ tăng. Ngoài ra vốn tự có của khối công ty tài chính - cho thuê tăng 516 tỷ đồng lên 19.061 tỷ đồng.

Nếu xét về giá trị tuyệt đối, hiện khối NHTMCP lại dẫn đầu về vốn tự có; đứng thứ hai là khối NHTM Nhà nước; xếp thứ ba là khối ngân hàng liên doanh - nước ngoài.

Trong tháng 9, vốn điều lệ của toàn hệ thống cũng tăng mạnh 6.789 tỷ đồng lên 4778.399 tỷ đồng, bằng 60% mức tăng của 8 tháng đầu năm. Còn so với cuối năm 2015, vốn điều lệ của toàn hệ thống tăng thêm 18.120 tỷ đồng (tương đương tăng 2,96%)

Trong tháng, ngoại trừ vốn điều lệ của khối Ngân hàng Chính sách, Công ty tài chính – cho thuê và Ngân hàng Hợp tác xã là không thay đổi, vốn điều lệ của các khối còn lại đều tăng.

Trong đó, tăng mạnh nhất là khối NHTM Nhà nước với mức tăng 4.550 tỷ đồng lên 141.693 tỷ đồng. Đứng thứ hai về mức độ tăng vốn điều lệ là khối ngân hàng liên doanh – nước ngoài, tăng 1.716 tỷ đồng lên 103.517 tỷ đồng.

Trong tháng vốn điều lệ của khối NHTMCP cũng tăng 522 tỷ đồng lên 197.280 tỷ đồng; hệ thống QTDND tăng 3 tỷ đồng lên 3.382 tỷ đồng.

Nếu xét về giá trị tuyệt đối, khối NHTMCP cũng đang dẫn đầu về vốn điều lệ với 197.280 tỷ đồng; kế đến là khối NHTM Nhà nước với 141.693 tỷ đồng; thứ ba là khối ngân hàng liên doanh, nước ngoài với 103.517 tỷ đồng.

Tính đến cuối tháng 9/2016, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của toàn hệ thống đạt 12,73%, giảm nhẹ so với cuối tháng 8, song vẫn cao hơn nhiều tỷ lệ cho phép của NHNN là 9%. Tỷ lệ này tại tất cả các khối đều cao hơn quy định.

Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của toàn hệ thống tại thời điểm cuối tháng 9 là 33,48%, không thay đổi so với thời điểm cuối tháng 8. Tỷ lệ này tại tất cả các khối đều thấp hơn nhiều mức tối đa theo quy định.

Điều đó cho thấy thanh khoản của hệ thống đang rất dồi dào. Đây là cơ sở để ổn định mặt bằng lãi suất huy động và phấn đấu giảm lãi suất cho vay.

Tags:

Dòng vốn ưu đãi mở lối an cư bền vững

Trong bối cảnh thị trường bất động sản đang được tái cấu trúc theo hướng lành mạnh và bền vững hơn, nhà ở xã hội nổi lên như một trụ cột quan trọng, vừa bảo đảm an sinh xã hội, vừa đóng vai trò “neo ổn định” cho toàn thị trường. Năm 2026, khi hành lang pháp lý được khai thông và dòng vốn tín dụng được nắn đúng hướng, nhà ở xã hội được kỳ vọng bước vào giai đoạn tăng tốc mới, với vai trò dẫn dắt ngày càng rõ nét của hệ thống ngân hàng.

Những mùa xanh trên miền đất đỏ

Cuối tháng Chạp, Tây Nguyên lạnh lắm. Ban ngày, nắng vàng như mật ong rót xuống các triền đồi. Nhưng về đêm, cái lạnh có khi xuống dưới 10 độ C, đủ để sương giăng trắng những con rẫy, đủ để người ta phải kéo cao cổ áo khi bước ra ngoài. Mỗi sớm, bên sườn đồi, cúc quỳ vào mùa nở rực. Người Tây Nguyên thường bảo nhau: thấy hoa cúc quỳ nở là biết xuân bước lên sườn đồi.

Tỷ giá USD/VND sẽ ổn định hơn trong 2026

DXY đang trong xu hướng điều chỉnh giảm và yếu tố này có lợi cho tỷ giá USD/VND, giúp cân bằng các yếu tố bất lợi và hỗ trợ cho tỷ giá năm 2026 sẽ ổn định hơn.

Dòng tín dụng và kỳ vọng chu kỳ tăng trưởng mới

2026 là năm bản lề triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030, nền kinh tế Việt Nam đứng trước yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng. Bài toán đặt ra không chỉ là tăng nhanh hơn, mà phải bền vững, lan tỏa sâu rộng hơn và tạo ra giá trị thực cho đất nước trên hành trình hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Theo định hướng đó, tín dụng sẽ tiếp tục ưu tiên cho sản xuất, chế biến - chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và doanh nghiệp nhỏ và vừa - những “động cơ” của tăng trưởng thực chất. Song song với tăng cung ứng vốn cho nền kinh tế, NHNN luôn yêu cầu các TCTD kiểm soát chặt rủi ro, thẩm định kỹ hiệu quả dự án và dòng tiền, hạn chế vốn chảy vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao hoặc không tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Video