Nhặt cá trong đống rác nhựa: Loại 'thuế vô hình' đang làm khó ngư dân
Túi nylon, chai nhựa, bao thức ăn nuôi trồng thủy sản, dây thừng và lưới cũ đang ngày càng xuất hiện cùng cá trong những mẻ lưới của ngư dân ven biển Việt Nam. Với nhiều người, việc phải "nhặt cá ra khỏi đống nhựa" đã trở thành một phần gần như thường nhật của hoạt động đánh bắt.
Nhưng phía sau những mẻ lưới đầy rác là một hóa đơn kinh tế không nhỏ.
Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Communications Earth & Environment thuộc Nature vào tháng 6/2026, dựa trên khảo sát ngư dân tại Hải Phòng, Nam Định và Bến Tre, ước tính ô nhiễm nhựa biển gây thiệt hại trung vị khoảng 3.421 USD cho mỗi tàu cá mỗi năm. Con số này tương đương khoảng 12% doanh thu hàng năm của tàu và 25% thu nhập của chủ tàu.
Nghiên cứu được thực hiện với 199 ngư dân khai thác ven bờ bằng lưới kéo và lưới rê tại khu vực cửa sông Hồng và sông Mekong. Nhóm nghiên cứu đồng thời tiến hành thêm 94 cuộc phỏng vấn kiểm chứng và 282 lần khảo sát lượng rác thực tế mắc trong lưới nhằm đối chiếu với thông tin do ngư dân cung cấp.
![]() |
| Những bao tải chứa đầy rác nhựa trên một cầu cảng ở Việt Nam. Ảnh: 3SIP2C |
Thuế vô hình lên ngành đánh bắt và ngư dân
Theo nghiên cứu, 54% tổng chi phí kinh tế đến từ thời gian tàu phải ngừng hoặc giảm hoạt động đánh bắt; 28% xuất phát từ việc rác làm giảm hiệu quả khai thác; 12% là chi phí lao động để phân loại cá khỏi rác; khoảng 5% liên quan tới sửa chữa ngư cụ và phần còn lại phát sinh từ việc xử lý rác mắc vào chân vịt.
Tính trung bình, mỗi tàu mất khoảng 158 giờ lao động mỗi năm vì rác nhựa, tương đương 6,5% tổng thời gian đánh bắt. Chỉ riêng việc phân loại rác khỏi sản phẩm khai thác cũng khiến thời gian xử lý mỗi mẻ lưới kéo dài thêm khoảng 15 phút.
Tần suất gặp rác cũng đáng chú ý. Khoảng 63% số ngư dân được khảo sát cho biết họ gặp rác nhựa trong lưới ở gần như mọi mẻ đánh bắt; thêm 18% cho biết rác xuất hiện trong 50-80% số mẻ lưới. Các loại phổ biến bao gồm túi và chai nhựa, đồ nhựa dùng một lần, bao thức ăn thủy sản, dây và các vật liệu liên quan tới hoạt động đánh bắt.
Áp lực từ rác nhựa còn cộng hưởng với tình trạng suy giảm nguồn lợi thủy sản. Một ngư dân tham gia nghiên cứu cho biết trước đây chỉ cần 6-7 mẻ lưới để chuyến biển có lãi, trong khi hiện tại có thể phải thực hiện tới 20-25 mẻ.
Rác trên biển cũng tạo ra rủi ro an toàn. Có tới 45% trong số 199 ngư dân được hỏi từng gặp tình trạng dây hoặc lưới bỏ đi quấn vào chân vịt, với trung vị khoảng bốn sự cố mỗi năm. Trong các cuộc thảo luận nhóm, ngư dân còn ghi nhận những trường hợp bị thương nặng, thậm chí tử vong khi xử lý vật liệu mắc vào chân vịt ngoài biển.
Gánh nặng kinh tế không phân bổ đồng đều. Tại Hải Phòng và Nam Định thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, chi phí do rác nhựa tương đương khoảng 10% doanh thu hàng năm của tàu cá. Tại Bến Tre ở đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ này lên tới khoảng 18%.
Xét trên tỷ trọng thu nhập, những cộng đồng ngư dân có thu nhập thấp hơn tại phía Nam lại đang phải chịu tác động lớn hơn đáng kể. Các nhà nghiên cứu cho rằng điều này có thể liên quan đến lượng rác lớn đổ ra biển từ hệ thống sông Mekong và Sài Gòn – Đồng Nai, cộng với sự dịch chuyển của rác dọc bờ biển Việt Nam.
Điều này biến ô nhiễm nhựa thành một dạng "thuế vô hình" đối với sinh kế ven biển: những người không nhất thiết tạo ra phần lớn lượng rác nhưng lại trực tiếp gánh chi phí dưới dạng mất thời gian, giảm sản lượng, hỏng thiết bị và tăng rủi ro trong lao động.
Việt Nam đã đặt mục tiêu giảm 75% lượng rác thải nhựa trên biển vào năm 2030 theo Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương. Tuy nhiên, theo số liệu được Mongabay dẫn từ Global Plastic Action Partnership, hiện chỉ khoảng 10-15% rác nhựa tại Việt Nam được tái chế.
![]() |
| Đồng bằng sông Hồng là khu vực khai thác thủy sản có mức thu nhập cao hơn so với ĐBSCL. Ảnh: Bruno Gonzalez |
Bỏ ra 60 USD để tránh thiệt hại hơn 3.400 USD?
Nghiên cứu cũng chỉ ra câu chuyện rằng những người phải chịu thiệt hại trực tiếp từ rác nhựa lại có thể trở thành lực lượng quan trọng để thu gom chúng.
Hiện nay, sau khi kéo rác lên cùng mẻ cá, nhiều ngư dân đơn giản ném chúng trở lại biển. Khoảng 77% số người được khảo sát cho biết vẫn thải lại rác biển mắc trong lưới xuống nước, trong khi 57% cảm thấy bản thân gần như không thể làm gì để giảm tác động của ô nhiễm nhựa.
Lý do chủ yếu mang tính kinh tế: đưa rác lên bờ tốn không gian, thời gian và công sức, trong khi ngư dân không nhận được lợi ích tương ứng.
Nhóm nghiên cứu vì vậy đề xuất mô hình "đánh cá kết hợp thu gom rác" (fishing for litter). Theo đó, ngư dân được trả một khoản tiền nhỏ để giữ lại lượng rác nhựa vô tình kéo lên và đưa về các điểm tiếp nhận trên đất liền, thay vì ném trở lại biển.
Kết quả khảo sát cho thấy đa số ngư dân sẵn sàng tham gia nếu có cơ chế bồi hoàn phù hợp. Mức giá trung vị mà họ đưa ra là khoảng 0,16 USD cho mỗi kg rác nhựa. Từ khối lượng rác thu được trong các chuyến biển, nhóm nghiên cứu ước tính chi phí để khuyến khích một tàu mang toàn bộ lượng nhựa gặp phải về bờ chỉ khoảng 60 USD mỗi năm.
Tuy vậy, khoản hỗ trợ 60 USD không đồng nghĩa vấn đề có thể được giải quyết chỉ bằng cách trả tiền cho ngư dân. Mô hình chỉ có thể vận hành nếu phía sau tồn tại một hệ thống tiếp nhận rác tại cảng, vận chuyển, phân loại, tái chế và xử lý đủ năng lực.
Các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm nguồn tài trợ để phát triển những mô hình kinh doanh cộng đồng tại Việt Nam, trong đó lưới đánh cá hết vòng đời và nhựa thu được trên biển có thể được tái chế hoặc nâng cấp thành các sản phẩm mới có giá trị thương mại. Nếu tạo được dòng doanh thu, hoạt động thu gom rác biển về lâu dài có thể giảm sự phụ thuộc vào tài trợ từ Chính phủ hay các tổ chức phi lợi nhuận.
Hoàng Phan















