Giảm lãi suất vay không thể “một sớm, một chiều”

Yêu cầu được Chính phủ đặt ra cho Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam phấn đấu tiếp tục giảm 0,5% lãi suất cho vay từ nay đến cuối năm 2017. Tuy nhiên, dường như mọi thứ khó thực hiện được trong bối cảnh các ngân hàng đang “chạy đua” bước vào vụ kinh doanh mùa cao điểm, cũng như là chuẩn bị cho những yêu cầu đảm bảo thanh khoản theo quy định mới trong thời gian tới.

“Sóng” lãi suất huy động

Báo cáo tình hình kinh tế vĩ mô 11 tháng năm 2017 của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cho biết, lãi suất huy động trên thị trường tăng nhẹ so với tháng trước khi một số ngân hàng thương mại lớn có tỷ trọng tiền gửi lớn điều chỉnh tăng lãi suất ở các kỳ hạn ngắn. Tiêu biểu, theo biểu lãi suất mới của BIDV, các khoản tiền gửi kỳ hạn 1 tháng và 2 tháng sẽ được hưởng lãi suất 4,8%/năm, tăng 0,5% so với mức lãi suất cũ. Khoản tiền gửi kỳ hạn 3 tháng được nâng từ 4,8% lên 5,2%/năm – tương đương với kỳ hạn 6 tháng… Tại VietinBank, lãi suất tiền gửi có kỳ hạn từ 6 đến dưới 9 tháng đã tăng từ mức 5,5- 5,7% lên 5,8%/năm; lãi suất tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng đến dưới 13 tháng tăng từ 6,5% lên 6,8%/năm.

Tuy nhiên, đến tuần cuối tháng 11, lãi suất huy động của một số ngân hàng lại quay đầu về mức cũ, thậm chí thấp hơn so với trước khi tăng. Đơn cử, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6-9 tháng của VietinBank còn ở mức 5,5%/năm thay vì mức 5,8%-6% như trước. Trên thị trường liên ngân hàng, nếu đầu tháng 11 lãi suất bình quân liên ngân hàng đồng VND kỳ hạn qua đêm có lúc ở mức hơn 1,5%/năm thì đến hết ngày 29.11, giảm xuống còn 0,7%/năm…

Và rồi trong những ngày gần đây, một số ngân hàng thương mại cổ phần tại tiếp tục tăng lãi suất huy động. Đơn cử, VPBank nâng lãi suất ở tất cả các kỳ hạn thêm ít nhất là 0,3 điểm phần trăm và nhiều nhất là 0,6 điểm phần trăm và các mức lãi suất khác nhau tùy thuộc số tiền gửi của khách hàng, áp dụng từ ngày 8.12.

Còn tại Sacombank, ngân hàng này cũng vừa điều chỉnh lãi suất từ ngày 12.12, trong đó kỳ hạn 1 tháng giữ nguyên, kỳ hạn 2 tháng tăng thêm 0,2 điểm phần trăm từ 5,1% lên 5,3%/năm, kỳ hạn 3 tháng tăng thêm 0,1 điểm lên 5,5% - ngang với kỳ hạn 4 tháng và 5 tháng. Tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng đến 8 tháng ở Sacombank tăng từ 6% lên 6,2% trong khi các kỳ hạn dài hơn đến dưới 12 tháng là 6,4%, tăng 0,4 điểm phần trăm. Các kỳ hạn 1 năm trở lên được áp dụng lãi suất cao từ 7,05% đến 7,4%/năm, đặc biệt nếu khách hàng có 500 tỷ trở lên gửi kỳ hạn 13 tháng thì lãi suất là 7,6%/năm. Một số ngân hàng khác cũng điều chỉnh tăng nhưng với mức tăng nhẹ hơn.

Bài toán khó giảm lãi vay

Theo báo cáo Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, thanh khoản của hệ thống ngân hàng nhìn chung ổn định nhờ được hỗ trợ lớn từ việc NHNN mua được lượng lớn ngoại tệ và cung ứng tiền ròng khoảng gần 124 nghìn tỷ đồng từ đầu năm đến nay. Tỷ lệ tín dụng/huy động (LDR) bình quân của hệ thống đạt khoảng 86,9%, tăng nhẹ so với mức 85,6% cuối năm 2016. Chính vì vậy theo đánh giá của một số chuyên gia tài chính, việc tăng lãi suất huy động giai đoạn này để hút vốn không chỉ phục vụ đầu ra mà còn đảm bảo các chỉ số thanh khoản đáp ứng quy định tại Thông tư 36 của NHNN bắt đầu áp dụng từ đầu năm 2018.

Theo quy định tại Thông tư 36, hệ số sử dụng vốn của ngân hàng trong năm tới chỉ còn là 80% thay vì 90% như hiện tại. Như vậy, đồng nghĩa với việc chi phí vốn ngân hàng phải trả tăng lên khi huy động 10 đồng chỉ được sử dụng 8 đồng chứ không được 9 đồng như trước kia nữa. Chi phí đầu vào cũng sẽ tăng lên nếu các ngân hàng không căn chỉnh được nguồn vốn tốt có thể dẫn đến câu chuyện đầu ra tăng lên. Bên cạnh đó, chỉ số sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được điều chỉnh xuống còn 45%. Ngân hàng nào chưa đáp ứng được chỉ số này thì có hai lựa chọn, một là giảm cho vay trung dài hạn và hai là phải tăng huy động vốn nhất là vốn trung dài hạn.

Phân tích kỹ về câu chuyện hạ lãi suất, theo chuyên gia tài chính – ngân hàng, TS. Cấn Văn Lực, có 4 nguyên nhân để hệ thống ngân hàng khó giảm lãi suất.

Thứ nhất là lạm phát năm nay kiểm soát tốt nhưng nếu không cẩn thận thì sang năm có thể tăng nhanh trong bối cảnh lượng cung tiền ra khá lớn, đồng thời với việc Chính phủ đồng ý tăng giá cả một số loại hàng hóa cơ bản, trong đó có giá điện. Theo nghiên cứu của TS. Lực thì giá cả hàng hóa thế giới trong năm 2017 tương đối ổn định, nhưng năm 2018 có thể tăng do nhu cầu và sự phục hồi tốt của kinh tế thế giới.

Thứ hai là vấn đề nợ xấu. Mặc dù Nghị quyết 42 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng giúp nợ xấu xử lý được nhanh hơn, nhưng đây vẫn là một quá trình không phải trong ngày một ngày hai; nợ xấu nếu chưa được xử lý nhanh hơn hiệu quả hơn thì sẽ khó giảm lãi suất.

Thứ ba là chênh lệch đầu ra đầu vào của Việt Nam ở mức tương đối thấp so với khu vực, chỉ 2,2-2,4%, trong khi mức này tại Trung Quốc khoảng 3%, Philippines, Indonesia khoảng 2,8-3%...; như vậy nghĩa là Việt Nam có cùng mức rủi ro nhưng chênh lệch lại thấp hơn.

Thứ tư là do nhu cầu nguồn vốn, đặc biệt là nhu cầu tăng trưởng tín dụng ở mức 18-20% theo yêu cầu Chính phủ đặt ra. Ngoài ra, các ngân hàng phải đáp ứng các yêu cầu về pháp lý, như Thông tư 06 của NHNN về yêu cầu giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn cũng khiến các nhà băng phải tăng cường huy động vốn cuối năm. Điều này khiến lãi suất đầu vào không thể giảm, kéo theo lãi suất đầu ra cũng không thể giảm.

Bản thân lãnh đạo NHNN cũng thừa nhận mặc dù mục tiêu giảm lãi suất là mục tiêu hướng tới nhưng lãi suất ở Việt Nam cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quan hệ cung cầu vốn ở trên thị trường và tình hình diễn biến kinh tế vĩ mô và các yếu tố khác có liên quan như chính sách điều hành tỷ giá, tình hình an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng nhưng quan điểm xuyên suốt của Chính phủ và của Ngân hàng nhà nước là kiên định mục tiêu ổn định vĩ mô và kiểm soát được lạm phát, giữ được lạm phát ở mức thấp.

Theo Gia Miêu - V.Anh Lao động

Tags:

Nam A Bank tổ chức thành công ĐHĐCĐ 2026: Sẵn sàng cho kỷ nguyên tăng trưởng mới

Ngày 20/3/2026, tại phường Xuân Hương – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank – HOSE: NAB) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm 2026. Đại hội không chỉ thông qua các tờ trình về kế hoạch kinh doanh, phương án tăng vốn… mà còn đánh dấu bước chuyển mình quan trọng khi bộ máy nhân sự nhiệm kỳ mới sẵn sàng cho kỷ nguyên tăng trưởng toàn diện.

Tỷ giá năm 2026: Kỳ vọng ổn định dù còn nhiều biến số

Những biến động địa chính trị tại Trung Đông đang khiến thị trường tài chính toàn cầu thận trọng hơn với rủi ro lạm phát và chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, theo nhiều tổ chức phân tích, dù tỷ giá có thể chịu sức ép trong ngắn hạn, mặt bằng tỷ giá USD/VND trong năm 2026 vẫn được kỳ vọng duy trì ổn định nhờ các yếu tố nền tảng của kinh tế vĩ mô Việt Nam.

Việt Nam có 13 ngân hàng trong danh sách thương hiệu ngân hàng giá trị nhất thế giới năm 2026

Báo cáo Banking 500 năm 2026 của Brand Finance ghi nhận tổng giá trị thương hiệu ngành ngân hàng toàn cầu đạt 1,8 nghìn tỷ USD. Đáng chú ý, Việt Nam có 13 ngân hàng góp mặt trong Top 500, cho thấy vị thế ngày càng rõ nét của hệ thống ngân hàng Việt trên bản đồ tài chính thế giới.

Thu hút CASA bằng chiến lược nuôi dưỡng dòng tiền giao dịch của khách hàng

Dòng tiền đang trở lại ngân hàng mạnh mẽ khi tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản thanh toán và tiền gửi tiết kiệm đều vượt mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, chiến lược thu hút tiền gửi không kỳ hạn (CASA) đang bước sang giai đoạn mới - nơi công nghệ chỉ là điều kiện cần, còn chìa khóa thực sự nằm ở khả năng kiểm soát và nuôi dưỡng dòng tiền giao dịch hằng ngày của khách hàng.

Dòng vốn ưu đãi mở lối an cư bền vững

Trong bối cảnh thị trường bất động sản đang được tái cấu trúc theo hướng lành mạnh và bền vững hơn, nhà ở xã hội nổi lên như một trụ cột quan trọng, vừa bảo đảm an sinh xã hội, vừa đóng vai trò “neo ổn định” cho toàn thị trường. Năm 2026, khi hành lang pháp lý được khai thông và dòng vốn tín dụng được nắn đúng hướng, nhà ở xã hội được kỳ vọng bước vào giai đoạn tăng tốc mới, với vai trò dẫn dắt ngày càng rõ nét của hệ thống ngân hàng.

Video