Cho vay tín chấp vốn lưu động doanh nghiệp SME như thế nào?

Chuyên gia kinh tế Đinh Thế Hiển cho rằng vấn đề là các NHTM có tổ chức nghiệp vụ này một cách bài bản, hệ thống và các chuyên viên có thực sự rèn luyện, chủ động lao vào ngành nghề gắn bó với doanh nghiệp hay không.

Trong bài trước, chuyên gia kinh tế Đinh Thế Hiển đã đưa ra lập luận chứng minh rằng cho vay tín chấp vốn lưu động các DN vừa và nhỏ (SME) không rủi ro hơn, thậm chí tốt hơn vì sẽ đem lại lợi nhuận nhiều hơn so với mất vốn. Đồng thời, ông Hiển cũng lý giải nguyên nhân vì sao lợi nhuận ngân hàng lại đến từ khách hàng cá nhân và doanh nghiệp SME.

Dù vậy, từ nhận định đến thực hiện như thế nào theo chuyên gia này là một vấn đề không đơn giản.

Khi quan sát vài NHTM ở Việt Nam, ông Hiển cho rằng dường như chỉ tiêu cho vay - sinh lợi - an toàn từ cấp trên ‘áp’ xuống các chi nhánh, rồi tiếp tục sếp các chi nhánh lại ‘áp’ xuống các trưởng - phó phòng, rồi tiếp tục đè xuống chuyên viên, mà phần nhiều là chuyên viên trẻ. Đến đây thì cũng dễ hiểu vì sao chuyên viên trẻ khó cho vay tín chấp vốn lưu động doanh nghiệp SME (sợ rủi ro). Chuyên gia Đinh Thế Hiển đưa ra 3 lý do như sau:

Thứ nhất, các chuyên viên tín dụng phải tự kiểm soát rủi ro các khoản cho vay, khó thuyết phục cấp trên trong khi phải "đổ sức" tìm hiểu hoạt động doanh nghiệp...

Thứ hai, phía trên chỉ ủng hộ chủ trương chứ không hỗ trợ cụ thể về các nghiên cứu, các quy định cụ thể theo quan điểm "kinh doanh".

Thứ ba, tự thân các chuyên viên trẻ cho rằng mình "đủ giỏi", và xem nhiệm vụ của họ là tìm các DN có hồ sơ đạt. Ngược lại, họ xem các DN thiếu hồ sơ là đối tượng rủi ro (nguy hiểm).

Theo đó, ông Hiển cho rằng : “Để cho vay tín chấp vốn lưu động doanh nghiệp SME cần phải tổ chức có hệ thống từ hội sở xuống chi nhánh thì chuyên viên tín dụng mới có ‘vũ khí’để chinh chiến và thắng lợi.”

Để làm được điều đó, ông Hiển cho rằng, thứ nhất, các ngân hàng phải tổ chức sản phẩm tín chấp. Đây là nhiệm vụ của hội sở, phải có bộ phân xây dựng sản phẩm theo mô hình tài chính và số liệu thực tế (như các tổ chức tín dụng nước ngoài), từ đó đưa ra các tiêu chí, định lượng chi tiết về loại hình tín chấp SME (vốn lưu động cho vay, ngành nghề, mức vay, lãi suất, điều kiện…)

Các tiêu chí này không phải là mới, nhưng cần phải chạy trên mô hình với những số liệu cập nhật hàng tuần, tháng, cũng như điều chỉnh mô hình khi điều kiện kinh tế vĩ mô, ngành nghề thay đổi giống như các cty bảo hiểm nhân thọ, công ty tài chính cá nhân đang làm”, ông Hiển phân tích.

Thứ hai, ngân hàng phải nghiên cứu các báo cáo vĩ mô về ngành nghề (tốt lên, xấu đi), các điểm chú ý rủi ro xuất hiện...Các báo cáo này hội sở phải làm từng tháng dựa trên những nghiên cứu định tính định lượng từ thu thập thực tế để cung cấp cho các chi nhánh và chuyên viên nắm rõ.

Thứ ba, Hội sở phải cung cấp hàng tuần tình hình cho vay, thu nợ của từng vùng, từng ngành để đưa ra các định mức tín dụng cho từng khu vực và ngành để chi nhánh căn cứ tiến hành cho vay. Điều này bảo đảm các chỉ tiêu dư nợ chung đúng theo tỷ lệ và giúp chi nhánh, cán bộ tín dụng định hướng triển khai tín dụng.

Cuối cùng là cho vay theo chuỗi để phân tán khoản vay. Ông Hiển cho rằng, khi ngân hàng cho một doanh nghiệp SME vay vốn lưu động không chỉ phân tích doanh nghiệp đó, mà phải phân tích chuỗi sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó. Thí dụ một doanh nghiệp cần vay 5 tỷ đồng để thực hiện đơn hàng xuất Thanh Long sang EU. Lúc này cần tìm hiểu vì sao DN đó cần 5 tỷ. Do họ cần mua Thanh long từ 2 cơ sở đóng gói, rồi tiếp tục tìm hiểm 2 cơ sở đóng gói thì cần doanh nghiệp ứng trước để thu mua nông dân. Như vậy thay vì giải ngân toàn bộ cho doanh nghiệp thì cho vay một phần (do hàng đi 2 tháng đối tác mới thanh toán), một phần giải ngân hoặc cho cơ sở thu mua vay...

Theo đó, phân tán khoản vay dựa trên dòng tiền hàng của chuỗi cung ứng sẽ giảm rủi ro dồn vào một doanh nghiệp vay, vừa giúp chuổi SXKD mạnh lên (nhờ vốn vay đúng nơi, đúng lúc), và cũng là cơ sở để tăng dần các khoản tín dụng khác dựa trên mối liên kết...

“Vấn đề là các NHTM có tổ chức nghiệp vụ này một cách bài bản, hệ thống và các chuyên viên có thực sự rèn luyện, chủ động lao vào ngành nghề gắn bó với doanh nghiệp, doanh nhân hay không mà thôi…", ông Hiển nói.

Theo Huy Nguyên - NDH

Tags:

Ngành ngân hàng: Lợi nhuận quý III tăng, áp lực vẫn hiện hữu

Lợi nhuận quý III/2026 của ngành ngân hàng ước tính tăng trưởng hai chữ số nhờ tín dụng mở rộng và thu nhập lãi thuần cải thiện. Tuy nhiên, áp lực chi phí vốn, biên lãi ròng chịu sức ép cùng những dấu hiệu cần lưu ý về chất lượng tài sản là những vấn đề ngành ngân hàng đang phải đối mặt.

Smart Banking Summit 2026: Nam A Bank đưa công nghệ trở thành động lực tăng trưởng bền vững

Ngày 22/10/2026, trong khuôn khổ Hội thảo và Triển lãm Smart Banking Summit 2026 diễn ra tại Hà Nội, Nam A Bank đã để lại dấu ấn trong chiến lược về trí tuệ nhân tạo (AI) và hệ sinh thái ngân hàng số. Ngân hàng tiếp tục khẳng định vị thế tiên phong trên hành trình chuyển đổi số toàn diện, kết hợp hài hòa giữa tốc độ đổi mới và khả năng an toàn bảo mật.

Nam A Bank đồnh hành củng diễn đàn kinh tế Việt Nam - Thụy Sĩ 2026: thúc đẩy dòng vốn tài trợ chuyển đổi năng lượng

Đồng hành cùng Diễn đàn Kinh tế Việt Nam – Thụy Sĩ (SVEF 2026) – sự kiện đánh dấu mốc công bố Hiệp định FTA Việt Nam – EFTA, Nam A Bank khẳng định vai trò tiên phong trong lĩnh vực tài chính xanh thông qua các đề xuất chiến lược giúp khơi thông nguồn vốn chuyển đổi năng lượng

Phải giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng trở lên

Ngày 18/10, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi niêm yết kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, đồng thời triển khai giải pháp giảm 1,5-2%/năm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên. Các ngân hàng phải kiểm soát chặt chất lượng tín dụng, nợ xấu và bảo đảm an toàn hệ thống.

Nam A Bank nhận nhiều giải thưởng uy tín trước thềm kỷ niệm 34 năm

Trước thềm kỷ niệm 34 năm thành lập, Nam A Bank (HoSE: NAB) tiếp tục ghi dấu ấn với loạt giải thưởng uy tín trong nước và khu vực, ghi nhận những nỗ lực trong hoạt động kinh doanh, nâng cao chuẩn mực quản trị và thúc đẩy phát triển bền vững.

Video