Chính sách tiền tệ phải thận trọng hơn

Việt Nam nên thận trọng hơn đối với chính sách tiền tệ, cân bằng bài toán giữa tăng trưởng và tín dụng.

Một trong những vấn đề được đề cập đến nhiều tại các diễn đàn trong thời gian gần đây chính là áp lực lạm phát đối với Việt Nam. Chính sách tiền tệ điều hành ra sao trong bối cảnh lạm phát có nguy cơ tăng. Trao đổi với phóng viên, TS. Phạm Thế Anh - Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết:

Có nhiều lý do gây sức ép lên lạm phát trong thời gian tới, nhất là đối với năm sau. Một trong những yếu tố tác động mạnh đến lạm phát là giá xăng dầu. Vì giá xăng dầu là mặt hàng tác động trực tiếp đến tiêu dùng hàng ngày, là yếu tố đầu vào của nhiều ngành sản xuất. Cho nên khi tăng giá xăng dầu trực tiếp làm tăng giá nhiều loại hàng hóa quan trọng khác trong giỏ hàng hóa của các hộ gia đình như lương thực thực phẩm, phương tiện đi lại, nguyên vật liệu… đồng thời tạo vòng xoáy tăng giá nhiều mặt hàng đẩy chi phí của DN lên cao.

Yếu tố nữa, khác với các nước trên thế giới, Việt Nam vẫn đang trong lộ trình gỡ bỏ quản lý giá theo hướng thị trường đối với các mặt hàng dịch vụ công như y tế, giáo dục… Mỗi năm dịch vụ này tăng mấy chục phần trăm đã đóng góp vào việc tăng giá của nền kinh tế.

Ngoài ra, yếu tố quốc tế nhất là từ chính sách thắt chặt tiền tệ của Mỹ thông qua việc Fed liên tục tăng lãi suất, đồng USD lên giá so với các đồng tiền khác. Khi đồng nội tệ của các quốc gia mất giá so với USD dẫn đến việc nhập khẩu hàng hoá trở nên đắt đỏ hơn, hay nói cách khác là nhập khẩu lạm phát từ bên ngoài vào gây sức ép thêm cho lạm phát trong nước.

Với những yếu tố trên, tôi cho rằng, có thể năm nay giữ được mục tiêu 4%, nhưng từ năm sau sẽ rất khác, việc kiểm soát lạm phát khó khăn hơn nhiều. Đặc biệt, sang năm 2019 việc tăng kịch trần thuế môi trường đối với xăng dầu thì ngoài tác động tăng giá chung của giá dầu thế giới, lại cộng thêm khoản thuế này nữa thì giá xăng dầu sẽ gây khó khăn hơn nữa đối với lạm phát. Đây là thách thức đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam.

Đâu là vấn đề cần phải thận trọng trong thời gian tới để kiểm soát lạm phát tốt hơn?

Theo tôi, lúc này điều hành chính sách tiền tệ cần phải rất thận trọng qua việc kiểm soát tăng trưởng tín dụng, cung tiền. Năm nay không nhất thiết phải thúc đẩy tăng tín dụng, cung tiền lên 15 hay 16% như những năm trước mà nên kiểm soát ở mức 10% để phòng ngừa lạm phát.

Tôi nghĩ bước sang quý IV, dù có vấn đề gì thì tăng trưởng kinh tế cũng không thể dưới 6,7% được mà cao hơn mục tiêu chung cả năm. Như vậy, có thể thấy mục tiêu tăng trưởng kinh tế hoàn toàn đạt được, nên phải nhìn vào các cân đối vĩ mô khác, đặc biệt phòng ngừa lạm phát, nếu không sẽ rất rủi ro cho nền kinh tế.

Nếu chúng ta để lạm phát cao xảy ra thì sẽ khó xử lý hơn là chủ động phòng ngừa. Khi lạm phát cao rồi mới thắt chặt tiền tệ thì lúc đấy cái giá phải trả của nền kinh tế sẽ rất là lớn. Vì một trong những cách phổ biến nhất chống lạm phát là tăng lãi suất. Như bạn biết, nếu tăng lãi suất sẽ tác động mạnh tới DN, DN gặp khó khăn thì tăng trưởng kinh tế cũng sẽ giảm theo.

Vậy theo ông, làm sao để hướng tới tăng trưởng kinh tế bền vững?

Hiện nay tốc độ tăng trưởng cung tiền của Việt Nam đang khá cao. Trước đây còn cao hơn nhưng vài năm trở lại đây tăng trưởng cung tiền đã giảm xuống 15-17%. Nhưng chỉ cần mỗi năm tăng 16% thì 5 năm sau cung tiền tăng gấp đôi. Trong khi tăng trưởng kinh tế không thể theo kịp như thế. Bản chất cung tiền chỉ là phương tiện thanh toán bôi trơn cho tăng trưởng kinh tế. Nếu cao quá, vượt quá khả năng tăng trưởng kinh tế dẫn đến giá cả tăng.

Do vậy, tôi nghĩ Việt Nam nên thận trọng hơn đối với chính sách tiền tệ, cân bằng bài toán giữa tăng trưởng và tín dụng. Theo tôi, nên chuyển hướng chuyển từ tăng trưởng sang kiểm soát lạm phát thận trọng tăng trưởng tín dụng ở mức 10-12% đề phòng nguy cơ lạm phát năm tới. Khi mà chúng ta vượt qua suy giảm, tăng trưởng ổn định cũng là lúc nên hướng tới tăng trưởng kinh tế bền vững, bớt dựa vào tiền tệ với kích thích tín dụng.

Xin cảm ơn ông!

Theo Tâm Anh Thời báo ngân hàng

Tags:

Tạo dư địa phát triển cho thuê tài chính

Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV, đang có nhu cầu lớn về nguồn vốn trung, dài hạn để đầu tư máy móc, thiết bị, đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất, trong khi khả năng cân đối vốn tự có còn hạn chế.

Năm 2025, tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai tăng 15,92%

Số liệu chính thức về hoạt động tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai cho thấy, kết thúc năm 2025, tín dụng khu vực này đạt 5.806,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,92% so với năm 2024, phản ánh tốc độ tăng trưởng cao gắn liền với kết quả tăng trưởng kinh tế - xã hội khu vực cũng như cơ chế chính sách, điều hành chính sách tiền tệ tín dụng của Ngân hàng Nhà nước.

Làm tốt hoạt động ngân hàng đối với khu công nghiệp, khu chế xuất góp phần phát triển kinh tế - xã hội

Mở rộng và phát triển dịch vụ ngân hàng đối với khu công nghiệp, khu chế xuất không chỉ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, mà còn tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) mở rộng các hoạt động dịch vụ ngân hàng.

Nam A Bank tiên phong khởi xướng cộng đồng tài chính xanh – Đòn bẩy của Trung tâm Tài chính Quốc tế TP.HCM

Tại Hội thảo “Thúc đẩy tài chính xanh và sàn giao dịch tín chỉ carbon trong trung tâm tài chính quốc tế”, Nam A Bank đã tiên phong đề xuất thành lập Cộng đồng Tài chính xanh. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm xây dựng hệ sinh thái bền vững, đồng hành cùng Trung tâm Tài chính Quốc tế TP.HCM (VIFC) hiện thực hóa mục tiêu Net Zero 2050, thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam.

Nam A Bank tăng trưởng quy mô vượt trội trong năm 2025, chất lượng tài sản được cải thiện đáng kể

Kết thúc năm 2025, Ngân hàng TMCP Nam Á (HOSE: NAB) ghi nhận kết quả kinh doanh với các chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đạt 18,2%, tổng tài sản tiệm cận mốc 420.000 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng duy trì ở mức thấp 2,15% (1,93% trước CIC); tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng mạnh lên mức hơn 54%.

Video