Cần khung pháp lý cho tài chính xanh

Để thúc đẩy thị trường tài chính xanh, cần các cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh, khuyến khích tín dụng xanh, tài chính xanh...

Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới, để đạt mục tiêu đưa phát thải ròng về 0 vào 2050, Việt Nam cần 368 - 380 tỷ USD (tương đương 6,8% GDP mỗi năm) từ nay đến năm 2040. Tuy nhiên, việc tiếp cận tín dụng xanh không dễ dàng.

Khó tiếp cận vốn xanh

Theo thống kê của NHNN Việt Nam, mặc dù tín dụng xanh tăng trưởng bình quân khoảng 22%/năm từ năm 2017 đến nay. Tuy nhiên tính đến cuối năm 2023, dư nợ tín dụng xanh mới đạt 620.984 tỷ đồng, mới chỉ chiếm 4,5% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, còn cách khá xa mục tiêu 10% vào cuối năm 2025.

Lý giải về việc tín dụng xanh vẫn còn khá khiêm tốn, một lãnh đạo của Vụ Tín dụng các ngành kinh tế thuộc NHNN cho biết, do hiện vẫn chưa có có sự thống nhất về việc phân loại lĩnh vực xanh của các bộ, ngành khác, nên chưa đảm bảo xác định, thống kê đầy đủ nguồn lực tín dụng xanh của ngành ngân hàng cho nền kinh tế.

Còn theo lãnh đạo các ngân hàng, tín dụng xanh cũng đối mặt với nhiều rủi ro do các dự án xanh thường có thời gian vay dài, quy mô vốn lại lớn. Đơn cử như với các dự án năng lượng tái tạo, phải đầu tư rất nhiều, tính mạo hiểm của dự án cao. Bên cạnh đó, cơ chế để khuyến khích các ngân hàng cấp tín dụng xanh cũng chưa nhiều…

 

Gỡ khó cách nào?

Theo đánh giá của các chuyên gia, nguyên nhân lớn nhất kìm hãm sự phát triển của thị trường tín dụng xanh, trái phiếu xanh là khuôn khổ pháp lý chưa hoàn thiện, nhất là còn thiếu các quy định, tiêu chí môi trường, danh mục phân loại xanh ở cấp quốc gia. Vì vậy, cần có quy định về danh mục phân loại xanh quốc gia phù hợp với phân loại ngành kinh tế và thông lệ quốc tế. Từ đó, các TCTD mới có cơ sở đánh giá cụ thể đối với từng khách hàng trong quá trình thẩm định cho vay; tập trung, ưu tiên bố trí nguồn vốn hợp lý tài trợ cho các dự án thuộc danh mục phân loại xanh.

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Trường Đại học Kinh tế TP. HCM kiến nghị cần có cơ chế, chính sách khuyến khích cho lĩnh vực xanh, tín dụng xanh. Theo đó, NHNN có thể cân nhắc nhiều biện pháp khuyến khích về thời hạn, chi phí vốn vay, ưu tiên khi xét room tín dụng…

“Về dài hạn, cần xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển thị trường vốn, thị trường trái phiếu xanh, tạo kênh huy động vốn cho các chủ đầu tư có thêm nguồn lực triển khai các dự án xanh. Từ đó vừa tránh phụ thuộc, vừa giảm gánh nặng quá lớn vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng”, ông Huân nói.

Đồng quan điểm, TS. Cấn Văn Lực – Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV cho rằng, cần hoàn thiện khung chính sách cho phát triển thị trường tài chính xanh; có cơ chế, chính sách để thu hút nguồn vốn cho đầu tư xanh; cần hoàn thiện chính sách, đơn giản hóa thủ tục và khuyến khích các tổ chức trong nước tham gia vào quá trình xác nhận, chứng nhận khung dự án xanh, trái phiếu xanh…

Theo Diễn đàn doanh nghiệp

Vốn cho bất động sản: Dòng tiền ưu tiên dự án an toàn, nhu cầu thực

Trong bối cảnh ngân hàng hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, các ngành ưu tiên và các động lực tăng trưởng mới như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và khoa học - công nghệ, dòng tiền vào bất động sản được định hướng theo hướng chọn lọc hơn, ưu tiên nhu cầu thực và các dự án có tính thanh khoản cao.

NHNN rà soát, đẩy mạnh phân cấp, cắt giảm thủ tục hành chính trong lĩnh vực ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đang tiến hành rà soát lớn đối với thủ tục hành chính trong lĩnh vực ngân hàng, với trọng tâm là cắt giảm thời gian xử lý hồ sơ, đơn giản hóa giấy tờ và phân cấp mạnh hơn cho NHNN chi nhánh khu vực. Hàng loạt dự thảo thông tư vừa được công bố cho thấy xu hướng chung là chuyển nhiều thủ tục từ cấp Trung ương về địa phương, đồng thời giảm đáng kể thời gian giải quyết trong các lĩnh vực như quản lý ngoại hối, cấp phép ngân hàng, thanh toán không dùng tiền mặt, fintech và tổ chức tín dụng hợp tác xã…

Phát triển KHCN&ĐMST, tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi số, hiện đại hóa hoạt động ngân hàng

Ngày 18/5 hằng năm là Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, góp phần tôn vinh đội ngũ trí thức, khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) trong phát triển đất nước. Đối với ngành Ngân hàng, đây cũng là động lực thúc đẩy chuyển đổi số, hiện đại hóa hoạt động và xây dựng hệ sinh thái tài chính số lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.

Ngân hàng số tăng tốc, mở rộng không gian phát triển kinh tế số

Chuyển đổi số đang trở thành một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng của ngành Ngân hàng cũng như nền kinh tế Việt Nam. Nếu như vài năm trước, chuyển đổi số chủ yếu được nhìn nhận như một xu hướng công nghệ, thì đến nay, quá trình này đã bước sang giai đoạn phát triển mới, trở thành nền tảng cốt lõi để tái cấu trúc mô hình hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận tài chính và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

AI tái định hình ngành Ngân hàng: Thu hẹp phòng giao dịch, cắt giảm nhân sự

Từng có thời, độ phủ chi nhánh và phòng giao dịch được xem là biểu tượng sức mạnh của một ngân hàng. Nhà băng nào sở hữu mạng lưới rộng, hiện diện ở nhiều tuyến phố trung tâm, đồng nghĩa với vị thế lớn mạnh và khả năng tiếp cận khách hàng vượt trội. Nhưng chỉ sau vài năm chuyển đổi số bùng nổ, thực tế ấy đang đảo chiều.

Hoàn thiện “lá chắn” an ninh tài chính số

Trong kỷ nguyên AI, cùng với đà tăng tốc chuyển đổi số của ngành ngân hàng, việc xây dựng “lá chắn” an ninh tài chính số và củng cố niềm tin người dùng đang trở thành yêu cầu mang tính chiến lược.

Video