422 dự án đầu tư công gây thất thoát, lãng phí

Không chỉ số lượng dự án đầu tư công gây thất thoát, lãng phí còn lớn, cũng còn một số lượng khá lớn dự án không có hiệu quả.
.

Báo cáo Chính phủ về công tác giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư năm 2018, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, vẫn còn rất nhiều dự án sử dụng vốn nhà nước có vi phạm, gây thất thoát, lãng phí.

Cụ thể, qua kiểm tra, trong năm đã phát hiện 25 dự án vi phạm quy định về thủ tục đầu tư; 54 dự án vi phạm về quản lý chất lượng; 422 dự án có thất thoát, lãng phí; 450 dự án phải ngừng thực hiện.

Không chỉ tổng hợp số lượng dự án có vi phạm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư còn “điểm mặt, chỉ tên” các địa phương có nhiều dự án gây thất thoát, lãng phí. 

Nhiều nhất là tỉnh Bắc Giang - có 196 dự án, tiếp đó là Phú Thọ - có 111 dự án, Quảng Ngãi - có 58 dự án. 

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thì các dự án có thất thoát lãng phí chủ yếu là các chi phí không hợp lý, được phát hiện trong giai đoạn thanh, quyết toán, kiểm toán.

Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho biết, trong năm 2018 có 56.567 dự án sử dụng vốn nhà nước thực hiện đầu tư. Trong đó, có 23.618 dự án chuyển tiếp, chiếm 41,8%; 32.949 dự án khởi công mới, chiếm 58,2%.

Cũng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm 2018, có 30.521 dự án kết thúc đầu tư đưa vào khai thác sử dụng, chiếm 54% số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là, trong số các dự án kết thúc đầu tư đưa vào khai thác sử dụng, có 245 dự án có vấn đề về kỹ thuật, không có hiệu quả.

Theo số liệu mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp được, năm 2018 có 1.778 dự án chậm tiến độ, chiếm 3,1% số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ (trong đó số dự án nhóm A là 32 dự án, nhóm B là 382 dự án, nhóm C là 1.364 dự án). 

Các nguyên nhân chậm tiến độ chủ yếu là do công tác giải phóng mặt bằng (863 dự án, chiếm 1,5% số dự án thực hiện trong kỳ); do thủ tục đầu tư (372 dự án, chiếm 0,7% số dự án thực hiện trong kỳ); do bố trí vốn không kịp thời (278 dự án, chiếm 0,49% số dự án thực hiện trong kỳ); do năng lực của chủ đầu tư, ban quản lý dự án và các nhà thầu (142 dự án, chiếm 0,25% số dự án thực hiện trong kỳ) và do các nguyên nhân khác (759 dự án, chiếm 1,34%  số dự án thực hiện trong kỳ).

Trong năm 2018, cũng đã có tới 2.434 dự án thực hiện đầu tư trong năm phải điều chỉnh, chiếm 4,3% tổng số dự án thực hiện trong kỳ.

Trong đó, chủ yếu là các dự án phải điều chỉnh mục tiêu, quy mô đầu tư (1.147 dự án, chiếm 2% số dự án thực hiện trong kỳ); điều chỉnh tiến độ đầu tư (881 dự án, chiếm 1,58% số dự án thực hiện trong kỳ); điều chỉnh vốn đầu tư (798 dự án, chiếm 1,4% số dự án thực hiện trong kỳ); điều chỉnh do các nguyên nhân khác (790 dự án, chiếm 1,37% số dự án thực hiện trong kỳ). 

Tổng hợp số liệu báo cáo của các cơ quan, trong năm 2018 có 43.344 dự án trên tổng số 56.567 dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước thực hiện đầu tư trong kỳ thực hiện báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư, đạt tỷ lệ 76,6%.

Trong năm 2018, các cơ quan quản lý nhà nước đã tiến hành kiểm tra 15.639 dự án (chiếm 27,8% tổng số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ), tổ chức đánh giá 22.265 dự án (chiếm 39,57% tổng số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ).

Theo số liệu tổng hợp của các cơ quan trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư công, trong năm 2018, các cơ quan đã ưu tiên bố trí trả nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn vốn nhà nước theo quy định của Luật Đầu tư công. 

Tổng số vốn thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản trong năm là 12.050 tỷ đồng. Số nợ đọng xây dựng cơ bản còn lại là 12.554 tỷ đồng. 

Một số đơn vị còn nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản lớn, như Hà Giang (709 tỷ đồng), Thái Nguyên (2.035 tỷ đồng), Phú Thọ (1.463 tỷ đồng), Hòa Bình (111 tỷ đồng), Bắc Giang (124 tỷ đồng)...

“Các đơn vị trên cần rà soát, làm rõ số nợ đọng xây dựng cơ bản đến thời điểm hiện nay có thuộc đối tượng được thanh toán theo Điều 106 Luật Đầu tư công hay không. Trường hợp số nợ đọng phát sinh sau ngày 01/01/2015 là không phù hợp với quy định của Luật Đầu tư công”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết.

Cũng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong thời gian qua, công tác quản lý đầu tư từ ngân sách Trung ương được chấn chỉnh và có nhiều chuyển biến tích cực, nguồn vốn ngân sách được bố trí tập trung hơn, hiệu quả đầu tư bước đầu được nâng cao. Việc đầu tư từ các nguồn vốn nhà nước khác, đặc biệt từ nguồn vốn ngân sách địa phương và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước đã bước đầu có chuyển biến. 

Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại, hạn chế. Chẳng hạn, thời gian thực hiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư còn dài, một số quy định còn bất cập; công tác giải phóng mặt bằng một số dự án còn chậm; nhiều dự án còn chậm tiến độ, phải điều chỉnh…

Theo Hà Nguyễn (Baodautu)
Tags:

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm phát: Mục tiêu kép phải đạt được

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đã và đang theo đuổi những mục tiêu được đánh giá là “đầy tham vọng”: trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và đạt phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050. Điều này cho thấy quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam gắn chặt với bài toán khí hậu.

Sẵn sàng cho chu kỳ tăng trưởng mới

Bước sang năm 2026 – năm bản lề khởi đầu chu kỳ tăng trưởng mới giai đoạn 2026–2030, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng bền vững, dựa trên năng suất, khoa học – công nghệ và chất lượng thể chế, qua đó tạo nền tảng hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Xuất khẩu thuỷ sản tái cấu trúc năm 2026

Mặc dù ghi nhận những cú bật trong khó khăn của năm 2025, thủy sản Việt Nam hướng tới 2026 thận trọng bởi các yếu tố chu kỳ của thị trường, chuyển dịch cơ cấu thị trường và sản phẩm.

Phát huy vai trò nòng cốt, trụ cột phát triển kinh tế của ngành Công Thương trong kỷ nguyên mới

Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Phan Thị Thắng - Thứ trưởng Bộ Công Thương - đã trả lời phỏng vấn báo chí, làm rõ vai trò nòng cốt, trụ cột của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cũng như những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.

Xuất khẩu gạo đầu năm 2026: Thời cơ đã đến nhưng cạnh tranh khốc liệt hơn

Thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam bước vào đầu năm 2026 với nhiều tín hiệu tích cực khi Philippines là một trong những khách hàng lớn nhất dự kiến mở lại nhập khẩu sau giai đoạn điều tiết nguồn cung trong nước. Tuy nhiên, đi kèm với việc mở cửa là chính sách tăng thuế nhập khẩu, khiến bức tranh thị trường không chỉ có gam sáng mà còn đan xen nhiều thách thức, đặc biệt là áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Video