Tổ chức lại hệ thống 14 Chi nhánh Ngân hàng nhà nước khu vực

Nhằm đảm bảo hệ thống vận hành đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, phù hợp với mô hình quản lý hành chính của 34 tỉnh, thành phố sau sáp nhập, Ngân hàng nhà nước đã ban hành 14 Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định thành lập, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của 14 NHNN Khu vực (trừ NHNN Khu vực 1).

 

Tổ chức lại hệ thống 14 Chi nhánh Ngân hàng nhà nước khu vực

Thông tin từ Ngân hàng nhà nước (NHNN) cho biết, NHNN đã ban hành 14 Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định thành lập, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của 14 NHNN Khu vực (trừ NHNN Khu vực 1), đảm bảo hệ thống vận hành đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, phù hợp với mô hình quản lý hành chính của 34 tỉnh, thành phố sau sáp nhập. Các NHNN khu vực chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2025, đồng bộ với hệ thống chính quyền địa phương mới.

Các NHNN khu vực hiện tại (trừ NHNN khu vực 1 và NHNN khu vực 2) được thành lập trên cơ sở hợp nhất các NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trước đây. Mỗi NHNN khu vực sẽ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối trên địa bàn 03 đến 06 tỉnh/thành phố, bảo đảm tinh gọn tổ chức, nâng cao năng lực điều hành và hiệu quả hoạt động.

Việc tổ chức, sắp xếp lại NHNN khu vực được triển khai theo nguyên tắc giữ nguyên số lượng đầu mối tổ chức (15 NHNN khu vực), không làm phát sinh tổ chức mới, hạn chế tối đa tác động đến cán bộ, nhân sự, bảo đảm an toàn tài sản và an ninh tiền tệ, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong thực thi chính sách tiền tệ tại địa phương. 

NHNN cho biết, việc sắp xếp này bảo đảm phù hợp về mặt địa lý và giao thông, tạo thuận lợi cho hoạt động quản lý, chỉ đạo điều hành tại các địa phương, không làm gia tăng số lượng phòng thuộc NHNN khu vực so với hiện tại. 

Cùng với việc kiện toàn mô hình tổ chức NHNN khu vực, trên cơ sở hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương và Bộ Nội vụ, NHNN sẽ phối hợp với các địa phương để thành lập tổ chức Đảng tại NHNN khu vực theo đúng chỉ đạo của Ban Bí thư tại Kết luận số 151-KL/TW ngày 25/4/2025 về sắp xếp mô hình tổ chức đảng ở một số cơ quan, đơn vị, tổ chức quản lý theo ngành dọc và trong doanh nghiệp Nhà nước.

Cơ cấu 15 NHNN khu vực:

NHNN Khu vực 1: địa bàn Thành phố Hà Nội.

NHNN Khu vực 2: gồm 2 tỉnh/thành phố: TP Hồ Chí Minh (TP Hồ Chí Minh + Bà Rịa–Vũng Tàu + Bình Dương), Đồng Nai (Đồng Nai Bình Phước). Trụ sở tại TP Hồ Chí Minh.

NHNN Khu vực 3: gồm 3 tỉnh: Sơn La, Điện Biên, Lai Châu. Trụ sở tại tỉnh Sơn La.

NHNN Khu vực 4: gồm 3 tỉnh: Phú Thọ (Phú Thọ Hòa Bình Vĩnh Phúc), Tuyên Quang (Tuyên Quang Hà Giang), Lào Cai (Lào Cai Yên Bái). Trụ sở tại tỉnh Phú Thọ.

NHNN Khu vực 5: gồm 3 tỉnh: Thái Nguyên (Thái Nguyên Bắc Kạn), Cao Bằng, Lạng Sơn. Trụ sở tại tỉnh Thái Nguyên

NHNN Khu vực 6: gồm 2 tỉnh/thành phố: Thành phố Hải Phòng (Hải Phòng Hải Dương), Quảng Ninh. Trụ sở tại Thành phố Hải Phòng.

NHNN Khu vực 7: gồm 2 tỉnh Ninh Bình (Ninh Bình Nam Định Hà Nam), Thanh Hóa. Trụ sở tại tỉnh Thanh Hóa.

NHNN Khu vực 8: gồm 3 tỉnh: Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Trị (Quảng Trị + Quảng Bình). Trụ sở tại tỉnh Hà Tĩnh

NHNN Khu vực 9: gồm 3 tỉnh/thành phố: Thành phố Đà Nẵng (Đà Nẵng Quảng Nam), Quảng Ngãi (Quảng Ngãi Kon Tum), Thành phố Huế. Trụ sở tại Thành phố Đà Nẵng.

NHNN Khu vực 10: gồm 2 tỉnh: Khánh Hòa (Khánh Hòa Ninh Thuận), Lâm Đồng (Lâm Đồng Bình Thuận Đắk Nông). Trụ sở tại tỉnh Khánh Hòa.

NHNN Khu vực 11: gồm 2 tỉnh: Đắk Lắk (Đắk Lắk Phú Yên), Gia Lai (Gia Lai Bình Định). Trụ sở tại tỉnh Đắk Lắk.

NHNN Khu vực 12: gồm 2 tỉnh: Hưng Yên (Hưng Yên Thái Bình), Bắc Ninh (Bắc Ninh Bắc Giang). Trụ sở tại tỉnh Hưng Yên.

NHNN Khu vực 13: gồm 2 tỉnh: Đồng Tháp (Đồng Tháp Tiền Giang), Tây Ninh (Tây Ninh + Long An). Trụ sở tại tỉnh Đồng Tháp.

NHNN Khu vực 14: gồm 2 tỉnh/thành phố: Thành phố Cần Thơ (Cần Thơ Hậu Giang Sóc Trăng), Vĩnh Long (Vĩnh Long Bến Tre Trà Vinh). Trụ sở tại Thành phố Cần Thơ

NHNN Khu vực 15: gồm 2 tỉnh: An Giang (An Giang Kiên Giang), Cà Mau (Cà Mau Bạc Liêu). Trụ sở tại tỉnh An Giang.

Theo Pháp luật Việt Nam

Năm 2025, tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai tăng 15,92%

Số liệu chính thức về hoạt động tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai cho thấy, kết thúc năm 2025, tín dụng khu vực này đạt 5.806,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,92% so với năm 2024, phản ánh tốc độ tăng trưởng cao gắn liền với kết quả tăng trưởng kinh tế - xã hội khu vực cũng như cơ chế chính sách, điều hành chính sách tiền tệ tín dụng của Ngân hàng Nhà nước.

Làm tốt hoạt động ngân hàng đối với khu công nghiệp, khu chế xuất góp phần phát triển kinh tế - xã hội

Mở rộng và phát triển dịch vụ ngân hàng đối với khu công nghiệp, khu chế xuất không chỉ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, mà còn tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) mở rộng các hoạt động dịch vụ ngân hàng.

Nam A Bank tiên phong khởi xướng cộng đồng tài chính xanh – Đòn bẩy của Trung tâm Tài chính Quốc tế TP.HCM

Tại Hội thảo “Thúc đẩy tài chính xanh và sàn giao dịch tín chỉ carbon trong trung tâm tài chính quốc tế”, Nam A Bank đã tiên phong đề xuất thành lập Cộng đồng Tài chính xanh. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm xây dựng hệ sinh thái bền vững, đồng hành cùng Trung tâm Tài chính Quốc tế TP.HCM (VIFC) hiện thực hóa mục tiêu Net Zero 2050, thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam.

Nam A Bank tăng trưởng quy mô vượt trội trong năm 2025, chất lượng tài sản được cải thiện đáng kể

Kết thúc năm 2025, Ngân hàng TMCP Nam Á (HOSE: NAB) ghi nhận kết quả kinh doanh với các chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đạt 18,2%, tổng tài sản tiệm cận mốc 420.000 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng duy trì ở mức thấp 2,15% (1,93% trước CIC); tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng mạnh lên mức hơn 54%.

NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% năm 2026, yêu cầu kiểm soát chặt vào lĩnh vực rủi ro

Bám sát Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách kinh tế vĩ mô khác góp phần ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thực hiện tái cơ cấu các ngân hàng chuyển giao bắt buộc, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Video