Giá chè Việt Nam quá “bèo” so với thế giới

Tuy đứng thứ 5 toàn cầu về sản lượng xuất khẩu nhưng giá chè Việt Nam chỉ bằng 60-70% giá chè thế giới, thị trường lại chưa ổn định.

[caption id="attachment_27350" align="aligncenter" width="500"]doi che Giá chè Việt Nam chỉ bằng 60-70% giá chè thế giới[/caption]

Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (VITIC) vừa có báo cáo về một số loại hàng hóa xuất khẩu trong 7 tháng đầu năm nay. Với mặt hàng chè, khối lượng xuất khẩu đạt 69.000 tấn, tăng gần 5% song giá trị lại giảm hơn 2% so với cùng kỳ.

Việt Nam có thị trường xuất khẩu chè lớn nhất là Pakisstan với 33,7% thị phần. 7 tháng đầu năm, xuất khẩu chè vào thị trường này đã giảm 11,1% về giá trị do giá giảm tới 9,8% so với cùng kỳ. Những thị trường có giá trị xuất khẩu tăng mạnh là Indonesia (gấp 2,1 lần), Malaysia (gấp 1,8 lần), Philippines (gấp 3,5 lần) và Trung Quốc (gấp 1,3 lần).

Cũng theo VITIC, Việt Nam là nước xuất khẩu chè lớn thứ 5 thế giới (sau Kenya, Sri Lanka, Trung Quốc, Ấn Độ), sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là chè đen, chè xanh, chè ô long, chè nhài, chè đen OTC…

Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực, chè Việt Nam đang có giá xuất khẩu thấp nhất, chỉ bằng 60-70% giá chè thế giới, thị trường lại chưa ổn định. Cụ thể, giá chè xuất khẩu những tháng đầu năm 2016 đã giảm tới 6,6%, chỉ đạt khoảng 1.160 USD một tấn.

Nguyên nhân chính được cho là do mất an toàn thực phẩm và chất lượng chè chưa tốt, việc sử dụng thuốc trừ sâu bệnh cho chè ở nhiều nơi còn khá tuỳ tiện, không đảm bảo thời gian cách ly… còn phổ biến ở nhiều vùng chè.

Cùng với tình trạng sử dụng thuốc tùy tiện, nồng độ cao hơn quy định, việc dùng thuốc ngoài danh mục được phép sử dụng trên chè là nguyên nhân chính dư lượng thuốc trên sản phẩm chè cao như hiện nay.

Những nguyên nhân này khiến nhiều lô hàng chè xuất khẩu của Việt Nam bị đối tác cảnh báo hoặc trả về. Thời gian qua, nhiều lô hàng xuất khẩu lên tới hàng tấn bị trả về do hàm lượng tạp chất và các chất không đạt tiêu chuẩn.

Bên cạnh đó, tình trạng nhiều cơ sở chế biến chè không có vùng nguyên liệu mà thu gom nguyên liệu qua nhiều trung gian. Dẫn tới không kiểm soát được dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên chè, cộng với giá cả thu mua không hợp lý làm tăng giá nguyên liệu đầu vào và kéo dài thời gian bảo quản, làm giảm chất lượng nguyên liệu, tương ứng với giảm chất lượng sản phẩm xuất khẩu.

Để giải quyết hiện trạng này, Bộ Công Thương cho rằng, Nhà nước, doanh nghiệp cần quan tâm đến khoa học, công nghệ. Các cơ sở chế biến chè phải tạo được vùng nguyên liệu ổn định, lâu dài. Đặc biệt, là doanh nghiệp phải tự tổ chức dịch vụ bảo vệ thực vật tập trung thay thế việc sử dụng bảo vệ thực vật của các hộ nhận khoán và hộ nông dân trồng chè mới hy vọng kiểm soát được việc bảo vệ thực vật, tồn dư của các hoạt chất độc hại trong thuốc trên sản phẩm, đảm bảo an toàn thực phẩm và nâng cao năng suất, chất lượng chè.

Trong định hướng quy hoạch sản xuất chè an toàn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng nhấn mạnh, việc sản xuất, chế biến chè phải gắn với quy hoạch vùng sản xuất chè an toàn. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tập huấn đến người sản xuất và người tiêu dùng về sản xuất và tiêu thụ chè an toàn trên phương tiện thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương.

Bên cạnh đó, cần tăng cường đào tạo tập huấn nâng cao trình độ cho đội ngũ khuyến nông viên và cán bộ quản lý nông nghiệp của các địa phương về các văn bản quản lý nhà nước về sản xuất, chế biến chè an toàn. Khuyến khích các tổ chức chứng nhận chất lượng như Utz Certificed, RFA tham gia chứng nhận sản xuất chè trên địa bàn cả nước.

Theo Enternews

Tags:

Tăng tốc hút vốn tư nhân cho kinh tế số

Theo báo cáo thường niên của Google, Temasek và Bain & Company, vốn tư nhân đầu tư vào nền kinh tế số Đông Nam Á trong 6 tháng đầu năm 2025 đạt 7,7 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước.

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm phát: Mục tiêu kép phải đạt được

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đã và đang theo đuổi những mục tiêu được đánh giá là “đầy tham vọng”: trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và đạt phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050. Điều này cho thấy quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam gắn chặt với bài toán khí hậu.

Sẵn sàng cho chu kỳ tăng trưởng mới

Bước sang năm 2026 – năm bản lề khởi đầu chu kỳ tăng trưởng mới giai đoạn 2026–2030, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng bền vững, dựa trên năng suất, khoa học – công nghệ và chất lượng thể chế, qua đó tạo nền tảng hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Xuất khẩu thuỷ sản tái cấu trúc năm 2026

Mặc dù ghi nhận những cú bật trong khó khăn của năm 2025, thủy sản Việt Nam hướng tới 2026 thận trọng bởi các yếu tố chu kỳ của thị trường, chuyển dịch cơ cấu thị trường và sản phẩm.

Phát huy vai trò nòng cốt, trụ cột phát triển kinh tế của ngành Công Thương trong kỷ nguyên mới

Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Phan Thị Thắng - Thứ trưởng Bộ Công Thương - đã trả lời phỏng vấn báo chí, làm rõ vai trò nòng cốt, trụ cột của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cũng như những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.

Video