Điều trị hậu COVID-19 như thế nào?

Đa số các triệu chứng hậu COVID-19 là các biểu hiện rất nhẹ như mệt mỏi, hụt hơi, tức ngực… Bệnh COVID-19 cấp càng nặng thì hậu COVID-19 càng nặng và kéo dài.
Điều trị hậu COVID-19 như thế nào?

Hình ảnh phim của 1 bệnh nhân tổn thương phổi do COVID-19. Ảnh: Bệnh viện Thanh Nhàn

Cơ bản điều trị hậu COVID-19 theo nguyên nhân

Vấn đề sức khỏe của người bệnh sau nhiễm COVID-19 đang được quan tâm hơn bao giờ hết. Vậy hậu COVID-19 có những biểu hiện gì và điều trị như thế nào?

PGS.TS.BS Hoàng Bùi Hải, Phó Giám đốc Bệnh viện điều trị người bệnh COVID-19, Trưởng khoa Cấp cứu - Hồi sức tích cực, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã chia sẻ bài viết trên báo Sức khỏe và Đời sống nhằm cung cấp cho bạn đọc những thông tin về điều trị các vấn đề sức khỏe thường gặp hậu COVID-19.

Theo đó, tình trạng hậu COVID-19 bao gồm một loạt các triệu chứng (thể chất và tinh thần) phát triển trong hoặc sau COVID-19, tiếp tục kéo dài ≥ 2 tháng (tức là 3 tháng kể từ khi khởi phát) và không được giải thích bằng chẩn đoán khác.

Về cơ bản, điều trị hậu COVID-19 là điều trị theo nguyên nhân và các vấn đề tại thời điểm thăm khám.

Điều trị khó thở, ho hậu COVID-19

Khó thở là một chiến lược điều trị chung hậu COVID-19. Do đó, cần tìm nguyên nhân cơ bản gây khó thở, thường là do nhiều yếu tố: Viêm phổi, viêm phổi tổ chức, suy nhược thần kinh cơ, đợt cấp của bệnh phổi tiềm ẩn, hẹp khí quản do đặt nội khí quản, suy tim…

Với bệnh nhân thở khí trời, SpO2 <92% vẫn tiếp tục được hỗ trợ oxy gọng kính, cần khám chuyên khoa hô hấp và phục hồi chức năng hô hấp.

Ho sau khi mắc COVID-19 cấp được quản lý theo cách tương tự như ho ở bệnh nhân mắc hội chứng ho sau virus khác. Tuy nhiên, cần loại trừ các nguyên nhân ho khác như viêm dạ dày thực quản trào ngược, cơn hen phế quản, suy tim đợt cấp, viêm phổi mới xuất hiện...

Có thể sử dụng thuốc giảm ho không kê đơn (ví dụ: benzonatate, guaifenesin, dextromethorphan) khi cần thiết.

Các liệu pháp xịt, hít, khí dung (ví dụ: thuốc giãn phế quản hoặc glucocorticoid dạng hít) có thể được kê đơn, có thể hữu ích trong một số trường hợp khi nguyên nhân ho là co thắt phế quản.

Hạn chế dùng opioid để điều trị ho do những nguy cơ có hại tiềm ẩn và chỉ được sử dụng cho những bệnh nhân bị ho khó chữa, nặng, không thể dung nạp, ảnh hưởng đến giấc ngủ và/hoặc giảm chất lượng cuộc sống.

Cảm giác khó chịu đau, tức, nặng ngực

Các triệu chứng, đau ngực do nhồi máu cơ tim; tổn thương cơ tim liên quan đến COVID-19; viêm cơ tim hoặc tắc động mạch phổi cần được đánh giá cấp cứu, nếu nghi ngờ bệnh nhân cần nhập viện cấp cứu.

Trường hợp đã loại trừ được các tình trạng cấp cứu trên, nếu có hạn chế cơ năng tim, bệnh nhân cần tư vấn bác sĩ chuyên khoa tim mạch.

Nếu tức ngực do co thắt phế quản, điều trị bằng thuốc giãn phế quản dạng hít, xịt, khí dung.

Triệu chứng khó chịu đau, tức ngực dai dẳng sau khi phục hồi sau COVID-19 cấp tính có thể giảm chậm. Thường không cần điều trị trừ khi nó ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Đối với các thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) có thể được sử dụng trong trường hợp không có rối loạn chức năng thận hoặc các chống chỉ định khác như dị ứng, viêm dạ dày tá tràng.

Có thể sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất. Ví dụ: ibuprofen 400-600 mg uống 8 giờ một lần nếu cần trong 1-2 tuần, lưu ý viêm dạ dày.

Điều trị hậu COVID-19 như thế nào? - Ảnh 3.

Triệu chứng khó chịu đau, tức ngực dai dẳng sau khi phục hồi sau COVID-19 cấp tính có thể giảm chậm. Thường không cần điều trị trừ khi nó ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Rối loạn "thần kinh thực vật" tư thế

Đối với những bệnh nhân bị rối loạn chức năng thực vật tư thế (ví dụ: nhịp tim nhanh xoang không rõ nguyên nhân, chóng mặt khi đứng) hậu COVID-19, có thể dùng tất chun tĩnh mạch, đai đeo bụng, uống đủ nước, vật lý trị liệu và điều chỉnh lối sống.

Di chứng thần kinh và nhận thức

Đối với những bệnh nhân có biến chứng thần kinh của COVID-19 cấp tính (ví dụ, đột quỵ, động kinh, bệnh não thiếu oxy, suy nhược thần kinh cơ liên quan đến hồi sức tích cực, hội chứng Guillain-Barré, viêm não), cần thăm khám thần kinh đầy đủ và đánh giá mức độ thiếu hụt chức năng thần kinh bệnh nhân.

Thông thường, không làm thăm dò hình ảnh thần kinh trừ khi có sự thiếu hụt thần kinh không giải thích được hoặc nghi ngờ tổn thương khu trú hoặc tình trạng khác.

Những bệnh nhân có biến chứng thần kinh sau COVID-19 được quản lý theo cách tương tự như với những bệnh nhân khác. Ví dụ, đối với những bệnh nhân bị yếu cơ không rõ nguyên nhân hoặc rối loạn cảm giác, có thể cần làm điện cơ và các đánh giá dẫn truyền thần kinh.

Tăng đông máu/ huyết khối

Nhiều bệnh nhân COVID-19 có tình trạng tăng đông máu trong giai đoạn bệnh cấp tính trên xét nghiệm và một số phát triển huyết khối tĩnh mạch, động mạch, đặc biệt là những bệnh nhân phải nằm hồi sức tích cực.

Bác sĩ phải tìm tất cả các triệu chứng của huyết khối tĩnh mạch sâu ở chi trên và chi dưới, thuyên tắc phổi hoặc huyết khối động mạch (ví dụ, thiếu máu cục bộ đầu chi).

Đối với bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông, bác sĩ xem xét lại thời gian và chỉ định dùng thuốc chống đông, đánh giá sự phù hợp và an toàn như ở bất kỳ bệnh nhân nào đang dùng thuốc chống đông.

Các triệu chứng khứu giác/vị giác

Đối với những bệnh nhân bị mất hoặc giảm khứu giác hoặc vị giác với COVID-19 cấp tính, bác sĩ sẽ hỏi về mức độ còn lại và cảm giác ngon miệng hoặc cân nặng của họ có bị ảnh hưởng hay không. Giảm cân có thể gặp với một số bệnh nhân sau khi ốm nặng do nhiều nguyên nhân, mà suy giảm vị giác và khứu giác có thể là một trong những nguyên nhân.

Mệt mỏi, giảm sức chịu đựng

Một số rất ít bệnh nhân mệt mỏi có thể liên quan đến bệnh viêm não tủy đau cơ/hội chứng mệt mỏi mãn tính.

Khi tư vấn bác sĩ sẽ tìm hiểu tình trạng nào có thể làm nặng tình trạng hoặc gây nên mệt mỏi, bao gồm tình trạng dùng thuốc/dùng nhiều thuốc cùng lúc, suy nhược, teo cơ, đau, rối loạn giấc ngủ, rối loạn nội tiết, rối loạn tâm thần và/hoặc các triệu chứng tim, phổi.

Khuyến khích nghỉ ngơi đầy đủ, vệ sinh giấc ngủ tốt và các chiến lược quản lý mệt mỏi cụ thể, có phương pháp để bảo tồn năng lượng trong công việc và sinh hoạt.

Khuyến khích một chế độ ăn uống lành mạnh và cung cấp đủ nước. Hiện vẫn chưa có một chế độ ăn uống cụ thể nào được chứng minh là có lợi. Không có đủ bằng chứng chứng minh việc sử dụng các chất bổ sung dinh dưỡng, tác nhân dược lý cụ thể trong điều trị mệt mỏi liên quan đến nhiễm COVID-19.

Các vấn đề khác

Tuỳ thuộc vào các tổn thương do COVID-19 gây ra hoặc do biến chứng trong thời kỳ này mà bác sĩ cần làm thăm dò, phối hợp các chuyên khoa. Các vấn đề có thể kể đến như: Thận, gan, nội tiết (đái tháo đường, suy thượng thận), tiêu hoá/dinh dưỡng (tiêu chảy, chán ăn, sụt cân…), da liễu (viêm da, loét da, rụng tóc…), các vấn đề tâm lý, rối loạn giấc ngủ, chất lượng cuộc sống, các quan ngại về kinh tế, xã hội của bệnh nhân.

Đa số hậu COVID-19 biểu hiện rất nhẹ

Tóm lại, COVID-19 cấp được tính trong vòng 1 tháng từ lúc khởi phát bệnh. Thêm 2 tháng theo dõi tiếp gọi là COVID kéo dài.

Ngoài thời gian này nếu có các triệu chứng cơ năng, thực tổn, tâm thần không giải thích được bằng nguyên nhân khác được xem là "hậu COVID".

Đa số "hậu COVID" là các biểu hiện rất nhẹ như: Mệt mỏi, hụt hơi, tức ngực… Bệnh COVID-19 cấp càng nặng thì hậu COVID-19 càng nặng và kéo dài.

Tuy nhiên, biểu hiện hậu COVID-19 rất phong phú. Để chẩn đoán bác sĩ cần hỏi các triệu chứng COVID-19 cấp tính và các biểu hiện lúc thăm khám để đưa ra yêu cầu xét nghiệm và chẩn đoán, xử trí phù hợp.

Theo Chinhphu.vn

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm phát: Mục tiêu kép phải đạt được

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đã và đang theo đuổi những mục tiêu được đánh giá là “đầy tham vọng”: trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và đạt phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050. Điều này cho thấy quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam gắn chặt với bài toán khí hậu.

Sẵn sàng cho chu kỳ tăng trưởng mới

Bước sang năm 2026 – năm bản lề khởi đầu chu kỳ tăng trưởng mới giai đoạn 2026–2030, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng bền vững, dựa trên năng suất, khoa học – công nghệ và chất lượng thể chế, qua đó tạo nền tảng hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Xuất khẩu thuỷ sản tái cấu trúc năm 2026

Mặc dù ghi nhận những cú bật trong khó khăn của năm 2025, thủy sản Việt Nam hướng tới 2026 thận trọng bởi các yếu tố chu kỳ của thị trường, chuyển dịch cơ cấu thị trường và sản phẩm.

Phát huy vai trò nòng cốt, trụ cột phát triển kinh tế của ngành Công Thương trong kỷ nguyên mới

Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Phan Thị Thắng - Thứ trưởng Bộ Công Thương - đã trả lời phỏng vấn báo chí, làm rõ vai trò nòng cốt, trụ cột của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cũng như những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.

Xuất khẩu gạo đầu năm 2026: Thời cơ đã đến nhưng cạnh tranh khốc liệt hơn

Thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam bước vào đầu năm 2026 với nhiều tín hiệu tích cực khi Philippines là một trong những khách hàng lớn nhất dự kiến mở lại nhập khẩu sau giai đoạn điều tiết nguồn cung trong nước. Tuy nhiên, đi kèm với việc mở cửa là chính sách tăng thuế nhập khẩu, khiến bức tranh thị trường không chỉ có gam sáng mà còn đan xen nhiều thách thức, đặc biệt là áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Video