Cơ hội đẩy mạnh tín dụng các lĩnh vực ưu tiên

Nhiều ngân hàng có dư địa lớn để tăng cho vay vào nhóm các lĩnh vực được ưu đãi về cơ chế quản lý hệ số rủi ro tín dụng như doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), nông nghiệp, tín dụng xanh, nhà ở xã hội…

Từ ngày 15/9, Thông tư 14/2025/TT-NHNN (Thông tư 14) sẽ chính thức có hiệu lực với điểm cốt lõi là cơ chế phân bổ hệ số rủi ro mới: Ưu đãi hơn cho lĩnh vực sản xuất, DNNVV, nông nghiệp, tín dụng xanh và nhà ở xã hội; đồng thời siết chặt với các khoản vay bất động sản đầu cơ và chủ đầu tư thiếu minh bạch. Phân tích tình hình kết quả kinh doanh và cơ cấu dư nợ của nhiều (thông qua qua các báo cáo tài chính quý II/2025) cho thấy tiềm năng tăng trưởng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất - kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên đang khá rộng mở.

Dư địa dịch chuyển dòng vốn lớn vào sản xuất

Theo kết quả kinh doanh của Vietcombank đến cuối tháng 6/2025, tổng dư nợ của ngân hàng này đạt khoảng 1,6 triệu tỷ đồng. Trong đó, khoảng 60-65% cơ cấu dư nợ được cho vay vào nhóm DN lớn; 8-12% vốn vay được rót vào các DNNVV, hộ kinh doanh, tiểu thương; khoảng 15-25% được cho vay đối với cá nhân, tín dụng tiêu dùng và chỉ khoảng 5-8% cho vay vào các dự án phát triển bất động sản.

Như vậy, khi Thông tư 14 có hiệu lực, Vietcombank không chịu ảnh hưởng nhiều đối với việc siết chặt hệ số rủi ro do ít phụ thuộc vào các khoản vay phát triển bất động sản. Ngược lại, ngân hàng có nhiều dư địa để điều chỉnh danh mục vào các lĩnh vực DNNVV, nông nghiệp và bán lẻ để khai thác ưu đãi hệ số rủi ro mới và tối ưu vốn, đảm bảo hệ số an toàn.

Đối với các ngân hàng khác, như VPBank, Techcombank, ACB tình hình cũng diễn ra tương tự. Các phân tích của SSI và SBBs đều cho thấy, đến hết quý II/2025, tỷ trọng dư nợ dành cho lĩnh vực bán lẻ cá nhân của VPBank chiếm khoảng 25-30%; cho vay nông nghiệp và DNNVV chiếm 12-20%, trong khi tài trợ vốn cho các dự án phát triển bất động sản chỉ chiếm khoảng 3-8%.

Tại Techcombank, dư nợ cho vay doanh nghiệp chiếm khoảng 40-50%, chủ yếu trong các ngành công nghiệp, chế biến, sản xuất có dòng tiền ổn định. Mảng bán lẻ tại Techcombank cũng khá nổi bật với khoảng 15-25% dư nợ được dành cho lĩnh vực cho vay tiêu dùng và DNNVV. Trong khi tại ACB, dư nợ bán lẻ và cho vay DNNVV chiếm áp đảo, lần lượt ở mức 35-45% và 20-30% (theo báo cáo tài chính quý II/2025 của ACB).

Điều này cho thấy, khi Thông tư 14 chính thức có hiệu lực, nhiều ngân hàng có cơ hội đẩy mạnh tập trung vốn vay vào phân khúc DNNVV và khách hàng cá nhân, đồng thời chuyển dịch cơ cấu cho vay sang các lĩnh vực tín dụng xanh, cho vay nhà ở xã hội và các dự án nông nghiệp sản xuất theo chuỗi giá trị.

Theo tính toán của một số chuyên gia, nếu một ngân hàng đang có 20% dư nợ dành cho lĩnh vực DNNVV, nông nghiệp, nông thôn thì khi các khoản này được giảm hệ số rủi ro xuống thấp hơn 25-50% (theo Thông tư 14) thì tổng tài sản có rủi ro sẽ sụt giảm đáng kể. Và khi đó, hệ số an toàn vốn (CAR) của ngân hàng được cải thiện, từ đó mở ra khả năng cấp thêm tín dụng mới mà không phải ngay lập tức tăng vốn chủ sở hữu.

Thông tư 14 có hiệu lực, lãi suất cho vay ưu tiên sẽ trở thành mặt bằng lãi suất chủ đạo, đặc biệt ở các lĩnh vực gắn với sản xuất, tiêu dùng thiết yếu  và an sinh xã hội
Thông tư 14 có hiệu lực, lãi suất cho vay ưu tiên sẽ trở thành mặt bằng lãi suất chủ đạo, đặc biệt ở các lĩnh vực gắn với sản xuất, tiêu dùng thiết yếu và an sinh xã hội

Đa dạng các sản phẩm đón đầu Thông tư

Quan sát trên thực tế cho thấy, từ đầu quý III/2025, khi NHNN bắt đầu ban hành Thông tư 14 và nền kinh tế có sự phục hồi nhanh trong các lĩnh vực sản xuất - xuất khẩu, bất động sản tiêu dùng, thu hút FDI, nhiều NHTM đã chủ động mở rộng các chương trình tín dụng ưu đãi và triển khai các gói vay dành cho người trẻ mua nhà.

Chẳng hạn, VietinBank đã kéo dài giải ngân gói tín dụng 60.000 tỷ đồng dành cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu; tập trung cho vay các ngành dệt may, da giày và nông sản chế biến với mức lãi suất vay hấp dẫn (từ 3,8%/năm đối với vay VND, và 3,2%/năm đối với vay USD). BIDV trong tháng 8/2025 đã triển khai gói vay nhà ở “Tri ân người chiến sĩ” với hạn mức 8.000 tỷ đồng; hỗ trợ ưu đãi lãi suất cố định 5,5%/năm trong 12 tháng đầu, hạn mức vay tối đa 5 tỷ đồng/khách hàng. Trong khi đó, Vietcombank tung ra gói tín dụng 30.000 tỷ đồng “đồng hành hộ kinh doanh và DNNVV”, hỗ trợ chuyển từ hộ kinh doanh lên DN, bổ sung vốn lưu động và mở rộng sản xuất.

Ở khối tư nhân, các ngân hàng như VPBank, Techcombank, ACB, TPBank, MB, PVcomBank… đều lần lượt có các chương trình ưu đãi tương tự như: Ưu đãi vay mua nhà cho người trẻ dưới 35 tuổi (VPBank); gói tín dụng hạn mức 40.000 tỷ đồng của ACB dành riêng cho vay các DNNVV lĩnh vực chế biến - xuất khẩu; “Vay vốn siêu tốc - bứt tốc kinh doanh” của VietBank, hỗ trợ bổ sung vốn ngắn hạn cho DNNVV mở rộng quy mô kinh doanh mùa cao điểm cuối năm, lãi suất từ 6,2%/năm; “Chắp cánh ước mơ an cư” của SeABank, lãi suất từ 5,8%/năm, thời hạn vay kéo dài đến 55 năm và ân hạn 5 năm nợ gốc…

Nhìn chung, theo nhận định của giới phân tích, những sản phẩm tín dụng kể trên đều hướng đến nhóm khách hàng DNNVV, hộ sản xuất - kinh doanh và người mua nhà ở là những phân khúc mà các ngân hàng sẽ nhận được ưu tiên về cơ chế phân bổ hệ số rủi ro theo Thông tư 14. Đa số các gói vay này có mức lãi suất tương đối ưu đãi (trung bình khoảng 6-6,5%/năm đối với các kỳ vay ngắn hạn); thời gian vay và các điều kiện tiếp cận vốn, trả nợ khá linh hoạt, được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá là “phù hợp”. Vì thế khi Thông tư 14 chính thức có hiệu lực, nhiều khả năng các tháng còn lại của năm 2025 sẽ là các tháng dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng có sự dịch chuyển mạnh sang lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, đáp ứng kịp thời như cầu vốn theo mùa vụ các dịp lễ tết cuối năm.

Theo Thời báo Ngân Hàng

Phát triển KHCN&ĐMST, tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi số, hiện đại hóa hoạt động ngân hàng

Ngày 18/5 hằng năm là Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, góp phần tôn vinh đội ngũ trí thức, khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) trong phát triển đất nước. Đối với ngành Ngân hàng, đây cũng là động lực thúc đẩy chuyển đổi số, hiện đại hóa hoạt động và xây dựng hệ sinh thái tài chính số lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.

Ngân hàng số tăng tốc, mở rộng không gian phát triển kinh tế số

Chuyển đổi số đang trở thành một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng của ngành Ngân hàng cũng như nền kinh tế Việt Nam. Nếu như vài năm trước, chuyển đổi số chủ yếu được nhìn nhận như một xu hướng công nghệ, thì đến nay, quá trình này đã bước sang giai đoạn phát triển mới, trở thành nền tảng cốt lõi để tái cấu trúc mô hình hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận tài chính và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

AI tái định hình ngành Ngân hàng: Thu hẹp phòng giao dịch, cắt giảm nhân sự

Từng có thời, độ phủ chi nhánh và phòng giao dịch được xem là biểu tượng sức mạnh của một ngân hàng. Nhà băng nào sở hữu mạng lưới rộng, hiện diện ở nhiều tuyến phố trung tâm, đồng nghĩa với vị thế lớn mạnh và khả năng tiếp cận khách hàng vượt trội. Nhưng chỉ sau vài năm chuyển đổi số bùng nổ, thực tế ấy đang đảo chiều.

Hoàn thiện “lá chắn” an ninh tài chính số

Trong kỷ nguyên AI, cùng với đà tăng tốc chuyển đổi số của ngành ngân hàng, việc xây dựng “lá chắn” an ninh tài chính số và củng cố niềm tin người dùng đang trở thành yêu cầu mang tính chiến lược.

Thị trường vay tiêu dùng khởi sắc nhờ liên kết bán lẻ

Các tổ chức tín dụng phối hợp với hệ thống bán lẻ và nền tảng thương mại điện tử, đặc biệt là sự bùng nổ của các giải pháp "Mua trước trả sau", đang tạo ra diện mạo mới cho thị trường vay tiêu dùng trong những tháng đầu năm 2026.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam duy trì thứ hạng cao về Chỉ số cải cách hành chính năm 2025

Chiều ngày 11/5/2026, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã chủ trì phiên họp thứ 3 năm 2026 của Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06. Tại Phiên họp, Bộ Nội vụ đã báo cáo và công bố kết quả Chỉ số hài lòng của người dân về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2025 (SIPAS 2025), Chỉ số cải cách hành chính năm 2025 của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (PAR INDEX 2025).

Video