Các ngân hàng nước ngoài đang làm ăn thế nào tại Việt Nam?

Trong cấu phần lợi nhuận của các ngân hàng ngoại thì có tới 70 – 80% là thu từ dịch vụ, còn thu từ tín dụng chỉ chiếm 10 – 15% và tỷ lệ còn lại là thu khác.

ANZ vp

Trong hệ thống các tổ chức tín dụng hiện nay, ngoài 32 ngân hàng thương mại cổ phần, các ngân hàng do Nhà nước sở hữu 100% vốn còn có các ngân hàng liên doanh, nước ngoài cũng đóng góp quan trọng vào thị trường tài chính.

Thống kê cho thấy hiện có 7 ngân hàng 100% vốn nước ngoài là HSBC (Hồng Kong – Thượng Hải), ANZ (Australia), Standard Chartered (Anh), Shinhan (Hàn Quốc), Hong Leong (Malaysia), Public Bank Berhad (Malaysia) và Woori (Hàn Quốc). Trong số này, HSBC có mặt tại Việt Nam sớm nhất, từ năm 1870, và cũng là ngân hàng nước ngoài đầu tiên thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam (đầu năm 2009). Woori của Hàn Quốc là ngân hàng 100% vốn nước ngoài mới nhất, khi vừa được cấp phép thành lập cách đây hơn 2 tháng.

Ngoài ra, số các chi nhánh của ngân hàng nước ngoài cũng đã lên đến con số 50, chưa kể 50 văn phòng đại diện và một số ngân hàng liên doanh.

Và theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước thì hiện nay nhóm các ngân hàng liên doanh, nước ngoài có tổng tài sản hơn 800 nghìn tỷ đồng, vốn tự có hơn 126 nghìn tỷ, vốn điều lệ hơn 101 nghìn tỷ. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) của nhóm này là 33,85% - gấp hơn 3,5 lần so với chỉ số CAR của các ngân hàng thương mại Nhà nước và cũng gấp hơn 2,5 lần so với CAR bình quân toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.

Đáng lưu ý, trong khi các chỉ số quan trọng về tài chính nói trên của các ngân hàng trong nước tăng chậm hoặc sụt giảm, thì của nhóm các ngân hàng nước ngoài và liên doanh lại không ngừng tăng.

Bên cạnh đó, một chỉ số quan trọng liên quan đến an toàn vốn của nhóm các ngân hàng này là họ không dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, trong khi đó các tổ chức tín dụng trong nước lên đến 33,48% (nhóm cổ phần tỷ lệ này là 41,28% và nhóm ngân hàng TMNN là 36,58%).

Về kết quả hoạt động, trong khi các ngân hàng nội có báo cáo hàng quý, hàng năm công bố rộng rãi, thì các ngân hàng này lại rất kín tiếng và chỉ báo cáo về cơ quan quản lý là Ngân hàng Nhà nước hàng năm. Trong các số liệu công khai, hiện có thông tin mới nhất của NHNN cập nhật đến hết quý 1/2016 cho thấy tỷ suất lợi nhuận trên vốn (ROE) của nhóm này đạt 1,37%, thấp nhất trong hệ thống các tổ chức tín dụng. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) trong khi đó đạt 0,2%, ngang bằng mức của các ngân hàng thương mại nhà nước và gấp đôi so với các ngân hàng cổ phần.

Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, trong cấu phần lợi nhuận của các ngân hàng ngoại thì có tới 70 – 80% là thu từ dịch vụ, còn thu từ tín dụng chỉ chiếm 10 – 15% và tỷ lệ còn lại là thu khác. Chính vì vậy, các dịch vụ của ngân hàng ngoại đều rất tốt, có lợi thế vượt trội so với các ngân hàng nội.

Chẳng hạn như dịch vụ cho các khách hàng cao cấp, dù không có con số thống kê chính thức, nhưng có tới hơn nửa khách VIP đang thuộc về các nhà băng ngoại. Điều này cũng dễ hiểu bởi họ (nhất là ANZ, HSBC, Standard Charterd) có dịch vụ từ rất sớm, chất lượng tốt, làm ăn bài bản, trong khi các ngân hàng trong nước mới chỉ biết đến và chú trọng mảng khách hàng này cách đây 3-4 năm (khởi đầu từ Techcombank năm 2012), thậm chí đến hiện tại vẫn còn chưa được triển khai ở nhiều ngân hàng.

Hay trong mảng thẻ, đặc biệt là thẻ tín dụng, trong top các ngân hàng có dịch vụ thẻ tốt nhất hiện nay thì ANZ, HSBC, Citibank luôn có mặt nhờ khả năng thanh toán rộng khắp các nước trên thế giới, nhiều ưu đãi và tính bảo mật cao. Nhưng các thẻ của nhóm ngân hàng này cũng có nhược điểm với người dùng phổ thông là phí thường niên cao hơn nhiều so với các ngân hàng nội, chẳng hạn của Citibank là 1,2 triệu đồng/năm.

Theo TS. Bùi Quang Tín, giảng viên trường Đại học Ngân hàng Tp. Hồ Chí Minh thì các dịch vụ của ngân hàng ngoại còn phải kể đến giao dịch ngoại tệ (đặc biệt là các sản phẩm phái sinh ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu để bảo hiểm tỷ giá), thanh toán quốc tế (vì họ có cả hệ thống thanh toán của các chi nhánh của ngân hàng của họ trên toàn cầu nên dịch vụ và phí rất rẻ...), các dịch vụ rất tốt cho đối tác nước ngoài (cấp tín dụng, bảo lãnh, các loại tài trợ thương mại khác, huy động vốn ...). Ngoài ra, họ cũng rất ưu việt trong việc IPO cho các doanh nghiệp start up, bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp, cổ phần hóa doanh nghiệp…

Về tín dụng, TS. Tín phân tích, lãi suất cho vay của nhóm này rất thấp nếu như khách hàng đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của họ về phương án kinh doanh, phương án trả nợ và pháp lý đầy đủ của tài sản thế chấp. Chính bởi lãi suất của họ thấp, nhưng do điều kiện quá khó (chú trọng quản trị rủi ro) nên ở thị trường Việt Nam không thể phát triển được, mà chủ yếu tín dụng phục vụ cho các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam và cho đối tác của họ ở nước ngoài.

Lý giải nguyên nhân vì sao ROE của các ngân hàng ngoại thường lại thấp hơn các ngân hàng nội, chuyên gia này cho rằng bởi dịch vụ của họ phát triển mạnh trong khi nguồn thu từ dịch vụ lại ít hơn (rẻ hơn) so với nguồn thu từ tín dụng. Hơn nữa, khách hàng của nhóm ngân hàng này là các doanh nghiệp nước ngoài cũng đang bị các ngân hàng nội cạnh tranh khá mạnh, đặc biệt là các “ông lớn”, khiến cho lợi nhuận của họ bị ảnh hưởng. Dẫu vậy, theo TS. Tín, điều này cũng không quá quan trọng bởi các ngân hàng ngoại họ ít bị rủi ro hơn các ngân hàng nội và vì thế có thể ổn định phát triển lâu dài hơn.

Theo Trí thức trẻ

Tags:

Dòng tín dụng và kỳ vọng chu kỳ tăng trưởng mới

2026 là năm bản lề triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030, nền kinh tế Việt Nam đứng trước yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng. Bài toán đặt ra không chỉ là tăng nhanh hơn, mà phải bền vững, lan tỏa sâu rộng hơn và tạo ra giá trị thực cho đất nước trên hành trình hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Theo định hướng đó, tín dụng sẽ tiếp tục ưu tiên cho sản xuất, chế biến - chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và doanh nghiệp nhỏ và vừa - những “động cơ” của tăng trưởng thực chất. Song song với tăng cung ứng vốn cho nền kinh tế, NHNN luôn yêu cầu các TCTD kiểm soát chặt rủi ro, thẩm định kỹ hiệu quả dự án và dòng tiền, hạn chế vốn chảy vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao hoặc không tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Khi ngân hàng nghỉ Tết, khách hàng cần lưu ý gì?

Những ngày cận Tết, nhu cầu giao dịch ngân hàng của người dân và doanh nghiệp thường tăng cao, từ rút tiền mặt, chuyển khoản, chi trả lương thưởng đến tất toán tiết kiệm, thanh toán các khoản vay và thẻ tín dụng. Năm nay, theo thông báo của nhiều ngân hàng thương mại, hệ thống sẽ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 trong 9 ngày, từ 14/2/2026 đến hết 22/2/2026, và làm việc trở lại từ 23/2/2026.

Nam A Bank xác lập vị thế thành viên chiến lược tại VIFC – HCMC qua ba hợp tác chiến lược

Ngay sau khi chính thức trở thành nhà đầu tư chiến lược của Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC - HCMC), Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank - HOSE: NAB) đã triển khai ký kết hàng loạt thỏa thuận hợp tác chiến lược nhằm triển khai các giải pháp thiết thực, cụ thể hóa vai trò và cam kết của mình trong tiến trình xây dựng một trung tâm tài chính xanh, hiện đại và hội nhập.

Nam A Bank chung tay cùng kiều bào phát triển đất nước thịnh vượng, hạnh phúc

Trong dòng chảy hội nhập toàn cầu, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Thông qua chuỗi hoạt động văn hóa – kết nối – hợp tác trong khuôn khổ Xuân Quê Hương 2026, Nam A Bank cùng các đối tác đã khẳng định vai trò cầu nối kiều bào, chung tay khơi dậy khát vọng cống hiến và kiến tạo một Việt Nam vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.

Video