Xử lý nợ xấu bằng ngân sách sẽ sinh lời

Những ngày gần đây, vấn đề sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu một lần nữa lại thu hút những quan điểm trái chiều. Vậy xử lý nợ xấu bằng ngân sách nên theo hướng nào?

[caption id="attachment_35523" align="aligncenter" width="588"]9 ngân hàng bán nợ xấu cho VAMC tính đến ngày 31/12/2015 9 ngân hàng bán nợ xấu cho VAMC tính đến ngày 31/12/2015[/caption]

Quan điểm trái chiều

Theo tính toán sơ bộ của ngân hàng Credit Suisse (Thụy Sỹ), nợ xấu của VN hiện nay rơi vào khoảng 7% – 8% (tính cả nợ xấu đang nằm trong ngân hàng, ở VAMC và nợ tái cơ cấu theo Quyết định 780/QĐ- NHNN). Vì vậy, xử lý nợ xấu lại đang đặt ra thách thức lớn cho nền kinh tế, bởi đây là nguyên nhân chính làm lãi suất khó giảm, tín dụng khó tăng ở thời điểm này.

Nhiều chuyên gia chia sẻ, việc dùng ngân sách để xử lý nợ xấu là điều vô lý, bởi “tiền ngân sách là tiền của dân, dù là tiền thuế hay tiền đi vay, không thể bắt người dân trả nợ cho cái mà họ không nợ” hay nhà nước dùng tiền ngân sách để xử lý nợ xấu là nhà nước giải cứu DN, ngân hàng vì họ không trả được nợ nên chính phủ trả nợ hộ… Tuy nhiên, đây là cách hiểu không đúng, tạo rào cản lớn cho việc dùng ngân sách để xử lý nợ xấu trở thành hiện thực. Cách hiểu này có phần thiếu thực tế. Bởi không một chính phủ nào đi trả nợ thay cho con nợ của mình, trừ trường hợp đó là DN của chính phủ nợ ngân hàng.

Có hay không chuyện giải cứu ngân hàng hay DN?

Hệ thống ngân hàng VN phát sinh nợ xấu vì cho DN vay, nhưng không trả được nợ. Hiện nay khi phát sinh nợ xấu, VAMC mua nợ theo giá trị sổ sách, trừ khoản trích lập dự phòng và VAMC có quyền gom nợ lại, trả lại cho ngân hàng sau 5 năm nếu không xử lý được khoản nợ.

Tuy nhiên, với đề xuất “bơm” thêm ngân sách để xử lý nợ xấu như hiện nay, VAMC sẽ mua nợ với giá trị thực, bằng tiền mặt, sau khi chiết khấu với tỷ lệ được thương lượng giữa VMAC và ngân hàng bán nợ (chiết khấu có thể khoảng 60-90% giá trị sổ sách) và mua đứt bán đoạn. Ở đây là VAMC vay tiền chính phủ để mua số nợ đó.

Về mặt pháp lý, dù VAMC mua với giá chiết khấu, nhưng DN hay con nợ sẽ vẫn có nghĩa vụ phải trả đủ 100% khoản nợ cho VAMC. Khoản nợ sẽ được chuyển từ ngân hàng sang cho VAMC. VAMC có quyền quyết định tiếp tục bơm tiền để “nuôi” con nợ phục hồi và trả nợ, hoặc thanh lý, bán cho nhà đầu tư. Ví dụ trên cho thấy, chính phủ không dùng ngân sách để cứu ai cả, bởi thay vì nợ ngân hàng, DN chuyển sang nợ VAMC. Chính phủ đầu tư và thực tế là khoản đầu tư đó có lợi do ngân sách có thể coi là khoản tiền ứng trước cho VAMC.

Một điều cũng cần lưu ý khi 1 ngân hàng bán nợ cho VAMC thì ngân hàng đó và VAMC sẽ đàm phán và thống nhất 1 tỷ lệ chiết khấu. Với tỷ lệ chiết khấu ngân hàng sẽ phải chịu thiệt hại vì chỉ có thể bán cho VAMC với tý lệ chiết khấu đã được thương lượng. Phần còn lại có món nợ (sau khi chiết khấu) ngân hàng phải hạch toán là khoản lỗ. Nhìn như vậy NHTM bán nợ sẽ luôn là người chịu thiệt hại đầu tiên. Và đây cũng là điểm cần nêu rõ Chính phủ dùng ngân sách để xử lý nợ, không có nghĩa là Chính phủ giải cứu ngân hàng…

Cần có bàn tay Chính phủ

Vấn đề xử lý nợ xấu hiện nay cần có bàn tay của chính phủ vì nó đang nằm ngoài khả năng của của các ngân hàng thương mại. DN nước ngoài không dại gì mua lại nợ xấu của VN. Theo tôi, chính phủ nên dùng ngân sách để xử lý nợ xấu, nhưng không chỉ là các khoản nợ xấu của DNNN, của các ngân hàng thương mại mà của tất cả các DN.

Nhưng để xử lý được nợ xấu, điều đầu tiên bắt buộc chính phủ phải minh bạch nợ xấu hiện tại là bao nhiêu, ở đâu, sử dụng nguồn tiền xử lý như thế nào?… Với nguồn tiền hỗ trợ của nước ngoài, nguồn tiền đi vay, giải pháp cuối cùng chính phủ có thể phải in thêm tiền theo cơ cấu: ngân sách chi khoảng 50%, 30% vay nước ngoài, 20% NHTM phải đóng góp. Từ 3 cấu phần đó tạo ra một quỹ xử lý. Từ đó, phải có kế hoạch phân khúc cho từng lĩnh vực, số tiền xử lý cho từng phân khúc cụ thể là bao nhiêu, phải ưu tiên hóa xử lý nợ xấu nào trước…

Nếu DN nào còn mang tính phục hồi, còn mang lại đóng góp cho kinh tế thì phải cứu họ trước. Lĩnh vực không còn phục hồi, nhưng tài sản đảm bảo vẫn có tính tính thanh khoản tốt như BĐS là ưu tiên thứ hai. Tất cả món nợ liên quan tới nhóm lợi ích phải được xem xét giải quyết cuối cùng…

Nguyễn Trí Hiếu – Chuyên gia kinh tế Theo DĐDN

Tags:

Năm 2025, tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai tăng 15,92%

Số liệu chính thức về hoạt động tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai cho thấy, kết thúc năm 2025, tín dụng khu vực này đạt 5.806,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,92% so với năm 2024, phản ánh tốc độ tăng trưởng cao gắn liền với kết quả tăng trưởng kinh tế - xã hội khu vực cũng như cơ chế chính sách, điều hành chính sách tiền tệ tín dụng của Ngân hàng Nhà nước.

Làm tốt hoạt động ngân hàng đối với khu công nghiệp, khu chế xuất góp phần phát triển kinh tế - xã hội

Mở rộng và phát triển dịch vụ ngân hàng đối với khu công nghiệp, khu chế xuất không chỉ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, mà còn tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) mở rộng các hoạt động dịch vụ ngân hàng.

Nam A Bank tiên phong khởi xướng cộng đồng tài chính xanh – Đòn bẩy của Trung tâm Tài chính Quốc tế TP.HCM

Tại Hội thảo “Thúc đẩy tài chính xanh và sàn giao dịch tín chỉ carbon trong trung tâm tài chính quốc tế”, Nam A Bank đã tiên phong đề xuất thành lập Cộng đồng Tài chính xanh. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm xây dựng hệ sinh thái bền vững, đồng hành cùng Trung tâm Tài chính Quốc tế TP.HCM (VIFC) hiện thực hóa mục tiêu Net Zero 2050, thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam.

Nam A Bank tăng trưởng quy mô vượt trội trong năm 2025, chất lượng tài sản được cải thiện đáng kể

Kết thúc năm 2025, Ngân hàng TMCP Nam Á (HOSE: NAB) ghi nhận kết quả kinh doanh với các chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đạt 18,2%, tổng tài sản tiệm cận mốc 420.000 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng duy trì ở mức thấp 2,15% (1,93% trước CIC); tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng mạnh lên mức hơn 54%.

NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% năm 2026, yêu cầu kiểm soát chặt vào lĩnh vực rủi ro

Bám sát Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách kinh tế vĩ mô khác góp phần ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thực hiện tái cơ cấu các ngân hàng chuyển giao bắt buộc, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Video