Phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1493/QĐ-TTg ngày 6/8/2026 phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược (Chương trình).
 
Phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược

Chương trình đặt mục tiêu tổng quát là làm chủ, phát triển, hoàn thiện và thương mại hóa được các sản phẩm công nghệ chiến lược có năng lực cạnh tranh cao, từng bước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; phát triển các công nghệ chiến lược, đặc biệt là công nghệ lõi; hình thành hệ sinh thái công nghệ chiến lược, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức khoa học và công nghệ, góp phần nâng cao năng lực tự chủ và năng lực cạnh tranh công nghệ quốc gia. 

Phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược

Mục tiêu cụ thể giai đoạn 2026 - 2030, làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược thuộc Danh mục công nghệ chiến lược do Thủ tướng Chính phủ ban hành; phát triển và thương mại hóa tối thiểu 15 sản phẩm công nghệ chiến lược thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược do Thủ tướng Chính phủ ban hành; trong đó có tối thiểu 5 sản phẩm được thương mại hóa tại thị trường khu vực hoặc quốc tế, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Sản phẩm công nghệ chiến lược được thương mại hóa đạt tỷ lệ nội địa hóa khoảng 40%; phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược thông qua việc chủ trì hoặc tham gia thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình, trong đó có tối thiểu 5 doanh nghiệp có sản phẩm công nghệ chiến lược tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Giai đoạn 2031 - 2035: Làm chủ 6 công nghệ chiến lược thuộc Danh mục công nghệ chiến lược do Thủ tướng Chính phủ ban hành; phát triển và thương mại hóa tối thiểu 25 sản phẩm công nghệ chiến lược thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược do Thủ tướng Chính phủ ban hành; trong đó có tối thiểu 15 sản phẩm được thương mại hóa tại thị trường khu vực hoặc quốc tế; sản phẩm công nghệ chiến lược được thương mại hóa đạt tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu 40%.

Phát triển tối thiểu 30 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược thông qua việc chủ trì hoặc tham gia thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình, trong đó có tối thiểu 10 doanh nghiệp có sản phẩm công nghệ chiến lược tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Để đạt được các mục tiêu trên, Chương trình đề ra 5 nhiệm vụ và giải pháp: Hoàn thiện cơ chế, chính sách; nghiên cứu, phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược; hỗ trợ thương mại hóa và phát triển thị trường cho sản phẩm công nghệ chiến lược; phát triển nguồn nhân lực và hợp tác quốc tế phục vụ Chương trình; theo dõi, đánh giá và điều phối thực hiện Chương trình.

Hình thành chuỗi liên kết phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược

Về hỗ trợ thương mại hóa và phát triển thị trường cho sản phẩm công nghệ chiến lược: Thúc đẩy cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước ưu tiên đặt hàng, mua sắm, thuê, sử dụng sản phẩm công nghệ chiến lược được phát triển trong khuôn khổ Chương trình theo quy định của pháp luật.

Xây dựng, công bố tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia theo trình tự, thủ tục rút gọn; phát triển năng lực đo lường, thử nghiệm, kiểm định, chứng nhận đối với sản phẩm công nghệ chiến lược, bảo đảm đồng bộ với tiến độ thực hiện nhiệm vụ và đáp ứng yêu cầu đưa sản phẩm ra thị trường.

Hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp tham gia các hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu công nghệ, quảng bá sản phẩm và mở rộng thị trường trong nước, quốc tế; thúc đẩy sản phẩm công nghệ chiến lược tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Khuyến khích doanh nghiệp công nghệ chiến lược, đặc biệt là doanh nghiệp đầu chuỗi, hợp tác với doanh nghiệp nhỏ và vừa, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học trong nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, hoàn thiện và chuyển giao công nghệ, hình thành chuỗi liên kết phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược.

Khuyến khích xác định ngay từ khi xây dựng nhiệm vụ cơ quan, tổ chức hoặc doanh nghiệp dự kiến tiếp nhận, thử nghiệm, ứng dụng hoặc thương mại hóa kết quả thực hiện nhiệm vụ; trường hợp chưa xác định được thì phải xây dựng phương án phát triển thị trường và thương mại hóa sản phẩm sau khi nhiệm vụ hoàn thành.

Phát triển nguồn nhân lực và hợp tác quốc tế phục vụ Chương trình

Chương trình sẽ tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ Tổng công trình sư, chuyên gia, nhà khoa học xuất sắc và nhân lực chất lượng cao trực tiếp thực hiện nhiệm vụ thuộc Chương trình theo quy định của pháp luật.

Xây dựng, cập nhật và khai thác mạng lưới chuyên gia công nghệ chiến lược trên Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phục vụ tuyển chọn chuyên gia, Tổng công trình sư, thành viên hội đồng tư vấn và nhân sự chủ chốt thực hiện nhiệm vụ.

Xác định nhu cầu nhân lực chất lượng cao của các nhiệm vụ thuộc Chương trình; gắn kết với các chương trình, đề án đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; khuyến khích doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học phối hợp đào tạo, bồi dưỡng nhân lực trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Thúc đẩy hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, phát triển, làm chủ, chuyển giao và đồng phát triển công nghệ chiến lược; thu hút chuyên gia, tổ chức khoa học và công nghệ nước ngoài tham gia thực hiện nhiệm vụ; tăng cường tham gia hoạt động tiêu chuẩn hóa quốc tế, thừa nhận lẫn nhau về kết quả thử nghiệm, kiểm định và chứng nhận đối với sản phẩm công nghệ chiến lược.

Minh Hiển

Theo Báo Điện tử Chính phủ

Ngành tôm hùm hướng đến giải pháp bền vững, gia tăng giá trị

Tăng trưởng xuất khẩu ấn tượng trong năm 2026 đang khẳng định vị thế của tôm hùm trong nhóm mặt hàng thủy sản có hiệu quả kinh tế cao của Việt Nam. Tuy nhiên, để chuyển dịch từ tăng trưởng theo sản lượng sang phát triển bền vững, việc tháo gỡ các điểm nghẽn về con giống, quy hoạch vùng nuôi và thị trường tiêu thụ được coi là điều kiện tiên quyết.

MỤC TIÊU XUẤT KHẨU NÔNG SẢN 100 TỶ USD: Nhận diện những 'nút thắt' để xuất khẩu thủy sản về đích

Mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam lên khoảng 95-100 tỷ USD vào năm 2030 là mục tiêu lớn nhưng có cơ sở, nhất là khi mỗi ngành hàng đều nỗ lực vươn lên, đóng góp vào mục tiêu này. Phóng viên Báo Điện tử Chính phủ đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) về những vướng mắc nội tại và các giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn 6 tháng cuối năm 2026 và vươn lên trên "chặng đường 100 tỷ USD".

Chuyển mình đưa ngành dừa đạt mốc 2 tỷ USD

Giữa biến động của thị trường nông sản năm 2026, ngành dừa Việt Nam đang trải qua những thay đổi toàn diện. Chuyển từ tư duy bán thô sang định danh bằng dữ liệu số, chuẩn hóa nguyên liệu và thắt chặt liên kết chuỗi, trái dừa không chỉ tự tin vượt mốc 1,1 tỷ USD xuất khẩu trong năm nay mà còn tạo nền tảng vững chắc hướng tới mục tiêu 2 tỷ USD.

Công nghệ chế biến sâu: Lối thoát cho bài toán giá trị nông sản Việt

Nhiều năm qua, ngành nông nghiệp Việt Nam rơi vào cái bẫy sản lượng khi nguồn cung dồi dào nhưng giá trị thu về chẳng được bao nhiêu. Trong bối cảnh chi phí sản xuất gia tăng, việc dồn lực đầu tư vào công nghệ và chế biến sâu không còn là một lựa chọn mở, mà đã trở thành mệnh lệnh sống còn để tái cấu trúc toàn bộ ngành hàng.

Tín dụng/GDP của Việt Nam 'phình' lên 155%, cao gấp 3 lần nhóm cùng hạng

Fitch Ratings đánh giá Việt Nam đang duy trì tốc độ tăng trưởng cao và có nền tảng tài khóa tương đối vững, song quy mô tín dụng quá lớn, dự trữ ngoại hối mỏng, phụ thuộc vào khu vực FDI và những rủi ro thương mại với Mỹ vẫn là các điểm nghẽn khiến Việt Nam chưa thể vượt khỏi mức xếp hạng BB+.

Video