Cuộc đua huy động vốn của các ngân hàng

Mặc cho lãi suất tiền gửi đã được điều chỉnh giảm nhiều lần kể từ đầu năm đến nay, nhưng dòng chảy tiền gửi vẫn kiên trì chảy vào các ngân hàng.

Các ngân hàng thương mại cũng nhanh chân xí phần trong cuộc đua thị trường tiền gửi hấp dẫn này, đặc biệt là trong phân khúc huy động từ thị trường dân cư đang có tốc độ tăng trưởng cao.

huy-dong-von

Tiền đổ về ngân hàng

Bất chấp nền kinh tế đi lên hay đi xuống, dòng vốn từ thị trường 1 (với đối tượng là dân cư và các tổ chức kinh tế) vẫn chảy mạnh về các ngân hàng thương mại, đặc biệt trong năm nay. Theo báo cáo tháng 10 của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư tăng 14,1%, trong khi cùng kì năm trước chỉ tăng 8%. Dòng vốn vào tăng còn nhanh hơn là tốc độ của dòng vốn đi ra (tín dụng) với mức tăng 12,5%.

Đi sâu vào từng ngân hàng thương mại, có thể thấy nếu xét về con số huy động tuyệt đối, các ngân hàng đã có tên tuổi với quy mô tài sản rất lớn và hệ thống chi nhánh lớn đang chiếm lĩnh thị trường vẫn tăng trưởng lượng tiền gửi nói chung dù một vài ngân hàng không ổn định trong 9 tháng đầu năm nay. Có thể lấy ví dụ như những ngân hàng Ngân hàng Quân Đội (3%), Eximbank (4,8%), Sacombank (9,4%); tăng trưởng ở mức khá hơn thì có Techcombank, ACB (xoay quanh mức 15%); nhưng ngược lại, lượng huy động vốn của VPBank lại giảm gần 3% so với thời điểm cuối năm ngoái. Ở phân khúc các ngân hàng có quy mô tài sản nhỏ, nhiều ngân hàng vẫn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ở mức cao. Lấy ví dụ tăng trưởng lượng tiền gửi khách hàng ở Ngân hàng LienVietPostBank đạt khoảng gần 35% còn Nam Á Bank khoảng hơn 32%.

Ở một góc độ khác, có thể thấy được xu hướng người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn là các tổ chức kinh tế. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính đến hết tháng 9, lượng huy động từ dân cư tăng trưởng đến hơn 17% trong khi các tổ chức kinh tế chỉ tăng trưởng có 10,65%.

Trên thực tế, nhiều ngân hàng tập trung đẩy mạnh việc huy động từ dân cư (tức bán lẻ) hơn là doanh nghiệp (bán buôn). Một ví dụ điển hình là Ngân hàng Bản Việt. Số liệu từ ngân hàng cho thấy tốc độ tăng trưởng lượng tiền gửi khách hàng cá nhân tính đến hết tháng 9 là 50%. Số liệu mới cập nhật tính lũy kế đến tháng 11 năm 2016 tăng trưởng 70% so với cùng kì năm ngoái.

Cách làm của Ngân hàng Bản Việt là nhanh chóng mở rộng mạng lưới giao dịch của mình. Trong năm nay, Ngân hàng Bản Việt đã khai trương 10 chi nhánh và phòng giao dịch, thậm chí dự kiến năm sau mở thêm khoảng 12 đến 15 điểm hiện đang trong giai đoạn cuối xin giấy phép từ Ngân hàng Nhà nước. Trên thực tế, có thể nhìn thấy cuộc chạy đua giữa các ngân hàng trong việc mở chi nhánh để tăng cường sự hiện diện của mình ở các tỉnh, địa phương cách xa đô thị lớn truyền thống, nhằm thu hút sự chú ý và lượng tiền gửi. Ngoài Ngân hàng Bản Việt, Nam Á Bank là một ví dụ khác.

Có thể thấy tăng cường huy động từ thị trường dân cư là một chiến lược tốt đối với các ngân hàng thương mại, không chỉ vì quy mô thị trường huy động bán lẻ lớn hơn bán buôn (chiếm gần 51% trên tổng phương tiện thanh toán so với con số 34% của các tổ chức kinh tế, theo số liệu Ngân hàng Nhà nước tính đến quý III/2016), mà còn bởi thị trường này giúp ngân hàng tăng khả năng bán chéo sản phẩm.

Với các điểm bán lẻ mới, đo lường hiệu quả là một câu hỏi lớn. “Bình quân mỗi điểm giao dịch huy động tiền gửi dân cư khoảng gần 600 tỉ đồng” – đại diện Ngân hàng Bản Việt cho biết. Con số này ở mức khá cao so với các ngân hàng có cùng quy mô, mở rộng các điểm bán lẻ cũng mang lại khó khăn trong việc kiểm soát chi phí. “Chủ trương của ngân hàng là tiếp tục ưu tiên mở rộng cơ sở khách hàng một cách bền vững mà chưa đặt nặng vấn đề lợi nhuận”– đại diện Ngân hàng Bản Việt cho hay.

Tương lai khốc liệt

Nhìn về tương lai, liệu dòng vốn từ thị trường 1 có chảy nhiều hơn vào ngân hàng trong thhời gian tới? Theo ông Trương Văn Phước, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, nhìn chung ở khu vực ngân hàng,trong năm nay huy động vốn ước đạt tăng khoảng 19% và lượng thanh khoản của ngân hàng vẫn ổn định.

Trong khi đó, theo báo cáo kết quả điều tra mới nhất của Vụ Dự báo, thống kê, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về xu hướng kinh doanh đối với các tổ chức tín dụng (TCTD) trong quý III vừa qua cho thấy, các tổ chức tín dụng kì vọng tăng trưởng bình quân huy động vốn của ngân hàng vào khoảng 16,85%, giảm 0,72% so với kỳ vọng tại cuộc điều tra kỳ trước và cao hơn mức thực tế của năm 2015.

Một yếu tố ảnh hưởng đến lượng tiền gửi chính là lãi suất tiền gửi. Từ đầu năm đến nay, lãi suất tiền gửi đã được điều chỉnh giảm một vài lần, nhưng các kì hạn dài thì các ngân hàng vẫn đưa ra mức lãi suất hấp dẫn, vì chính bản thân các ngân hàng muốn thay đổi cơ cấu huy động vốn kì hạn dài cho phù hợp với yêu cầu mới của Thông tư 36/2016. Chính vì thế, lãi suất huy động có lẽ vẫn ở một mức đủ hấp dẫn với người gửi tiền.

Hơn nữa, cũng theo báo cáo của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, lạm phát năm 2016 ước ở mức 4%, so với mức 0,6% trong năm 2015. Lạm phát cao hẳn nhiên khiến các ngân hàng không dám mạo hiểm hạ lãi suất, và chính điều này cũng tác động tích cực đến việc huy động vốn của các ngân hàng.

Có thể thấy trong thời gian qua khá nhiều ngân hàng tập trung vào việc huy động vốn từ thị trường dân cư. Trên thực tế, nguồn lực này không chỉ giúp đảm bảo các yêu cầu an toàn trong hoạt động ngân hàng, mà còn là đòn bẩy cho các hoạt động khác ở ngân hàng. Đặc biệt là từ năm sau trở đi, các ngân hàng phải thí điểm Basel II và rất có thể phải thực hiện sau đó với những yêu cầu khắt khe hơn về vốn. Do đó, bản thân các ngân hàng đang cần vốn hơn bao giờ hết, cuộc đua gọi vốn vì thế có lẽ sẽ còn khốc liệt hơn trong thời gian tới.

Ở khía cạnh khác, việc tăng trưởng huy động tốt tạo đà tốt cho các ngân hàng, nhưng sử dụng dòng vốn đó hiệu quả hay không còn là một câu hỏi khác. Điều này phụ thuộc vào chiến lược tăng trưởng cụ thể của từng ngân hàng.

Theo Hiếu Ngọc DĐDN

Tags:

Tạo dư địa phát triển cho thuê tài chính

Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV, đang có nhu cầu lớn về nguồn vốn trung, dài hạn để đầu tư máy móc, thiết bị, đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất, trong khi khả năng cân đối vốn tự có còn hạn chế.

Năm 2025, tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai tăng 15,92%

Số liệu chính thức về hoạt động tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai cho thấy, kết thúc năm 2025, tín dụng khu vực này đạt 5.806,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,92% so với năm 2024, phản ánh tốc độ tăng trưởng cao gắn liền với kết quả tăng trưởng kinh tế - xã hội khu vực cũng như cơ chế chính sách, điều hành chính sách tiền tệ tín dụng của Ngân hàng Nhà nước.

Làm tốt hoạt động ngân hàng đối với khu công nghiệp, khu chế xuất góp phần phát triển kinh tế - xã hội

Mở rộng và phát triển dịch vụ ngân hàng đối với khu công nghiệp, khu chế xuất không chỉ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, mà còn tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) mở rộng các hoạt động dịch vụ ngân hàng.

Nam A Bank tiên phong khởi xướng cộng đồng tài chính xanh – Đòn bẩy của Trung tâm Tài chính Quốc tế TP.HCM

Tại Hội thảo “Thúc đẩy tài chính xanh và sàn giao dịch tín chỉ carbon trong trung tâm tài chính quốc tế”, Nam A Bank đã tiên phong đề xuất thành lập Cộng đồng Tài chính xanh. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm xây dựng hệ sinh thái bền vững, đồng hành cùng Trung tâm Tài chính Quốc tế TP.HCM (VIFC) hiện thực hóa mục tiêu Net Zero 2050, thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam.

Nam A Bank tăng trưởng quy mô vượt trội trong năm 2025, chất lượng tài sản được cải thiện đáng kể

Kết thúc năm 2025, Ngân hàng TMCP Nam Á (HOSE: NAB) ghi nhận kết quả kinh doanh với các chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đạt 18,2%, tổng tài sản tiệm cận mốc 420.000 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng duy trì ở mức thấp 2,15% (1,93% trước CIC); tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng mạnh lên mức hơn 54%.

Video