Cho nhà đầu tư ngoại mua ngân hàng 0 đồng: Giá bao nhiêu?

Nhà đầu tư nước ngoài được lợi rất nhiều về thị phần, khách hàng... nếu mua cổ phần của các ngân hàng 0 đồng tại Việt Nam.

Quan tâm vì lợi

Trong một bài phỏng vấn mới đây, chuyên gia kinh tế-tài chính Trần Du Lịch cho rằng, việc mua lại ngân hàng 0 đồng (OceanBank, CBBank, GPBank) chỉ là giải pháp nhất thời để tránh sự đổ vỡ, tác động lên toàn hệ thống và đã đến lúc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cần buông các ngân hàng này để nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia mua lại cổ phần, đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc.

Trao đổi với Đất Việt, PGS.TS Ngô Hướng, nguyên Hiệu trưởng Đại học Ngân hàng TP.HCM và TS Bùi Quang Tín, giảng viên khoa Quản trị kinh doanh, Đại học Ngân hàng TP.HCM đều đồng tình với quan điểm trên và cho rằng điều này phù hợp với nền kinh tế thị trường, đặc biệt khi bước vào giai đoạn tái cấu trúc hệ thống ngân hàng (2016-2020) đòi hỏi phải quyết tâm, quyết liệt hơn, nhất là trong vấn đề quản trị điều hành, vốn, hỗ trợ sử dụng nguồn vốn Nhà nước.

[caption id="attachment_35696" align="aligncenter" width="660"] Đã tới lúc để các nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua cổ phần ngân hàng 0 đồng [/caption]

TS Tín chỉ ra những điểm cần lưu ý đối với các ngân hàng 0 đồng.

Thứ nhất, ở góc độ quản trị điều hành, NHNN đưa bộ máy quản trị điều hành của các ngân hàng lớn trong nhóm Big 3 (Vietcombank, Vietinbank, BIDV) vào ngân hàng 0 đồng để điều hành. Khi NHNN buông ngân hàng 0 đồng cũng có nghĩa hệ thống quản trị sẽ do chính bản thân ngân hàng đó tự điều hành, tự hoạt động, miễn là tuân thủ theo các quy định pháp luật.

Thứ hai, về góc độ hỗ trợ vốn và thanh khoản, các ngân hàng 0 đồng được NHNN hỗ trợ thanh khoản để hoạt động, nghĩa là các ngân hàng này được sử dụng nguồn vốn vay tái cấp vốn của NHNN.

Thứ ba, cơ cấu tổ chức, điều hành của ngân hàng 0 đồng gần như vẫn theo cơ cấu của các ngân hàng lớn.

Từ những đặc điểm trên, TS Bùi Quang Tín lý giải nguyên nhân nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến ngân hàng 0 đồng ở Việt Nam. Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài quan tâm trước hết đến thị phần của ngân hàng tại Việt Nam.

"Nói là ngân hàng 0 đồng nhưng ngân hàng ấy vẫn có khách hàng, phân khúc của họ cũng như hệ thống chi nhánh, phòng giao dịch ở khắp Việt Nam. Những ngân hàng này khi NHNN mua lại mới được định giá 0 đồng, còn khi các ngân hàng lớn tham gia vào quản trị điều hành, chúng đã tốt lên, từ đó thúc đẩy giá trị của ngân hàng tăng lên.

Như vậy, các ngân hàng 0 đồng vừa có thị phần, vừa có nguồn khách hàng, đặc biệt được tái cơ cấu theo hệ thống quản trị mới nên nhà đầu tư ngoại muốn nhảy vào mua. Họ được lợi lớn là có được một ngân hàng tại Việt Nam, thậm chí có thể mang tên họ nếu đổi tên mà không cần phải đầu tư, xây dựng một thương hiệu mới. Từ trước đến nay, cái gì mới bao giờ cũng tốn kém và tốn nhiều thời gian để khẳng định vị trí. Ngoài ra, ngân hàng ấy đã có sẵn một cơ cấu tổ chức, một bộ máy và nhà đầu tư ngoại chỉ cần đưa hệ thống của họ ráp vào, nó sẽ hoạt động một cách nhanh chóng và có thể sinh lời ngay lập tức", TS Tín nhấn mạnh.

Nói thêm về mối lợi của các nhà đầu tư ngoại khi mua lại ngân hàng 0 đồng, PGS.TS Ngô Hướng cho biết: "Ngân hàng 0 đồng nghĩa là tiêu sản lớn hơn thực sản, nợ nhiều hơn cả tài sản của ngân hàng. Tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài có thể mua lại cổ phần của ngân hàng này với rất nhiều đồng nếu họ thấy có thể khai thác được tài sản của ngân hàng đó.

Các nhà đầu tư nước ngoài có cách phục hồi, bỏ thêm vốn vào kinh doanh, có thể hoàn trả được tất cả các món nợ hay đòi được các món nợ cũ. Nếu họ làm tốt thì sẽ được lợi lớn từ các ngân hàng 0 đồng".

Trước lo ngại việc nhà đầu tư ngoại mua ngân hàng 0 đồng có thể tác động tiêu cực đến nền tài chính Việt Nam, vị chuyên gia tỏ ra lạc quan, thậm chí tin tưởng rằng nó có thể tác động tốt đến nền tài chính Việt Nam nếu họ làm cho các ngân hàng đó hoạt động tốt lên.

TS Bùi Quang Tín cho hay, so với các loại hình doanh nghiệp khác, ngân hàng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, có tính ảnh hưởng và hệ lụy lớn. Do đó, tại Việt Nam đã có hình thức các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn mua cổ phần tại ngân hàng Việt Nam nhưng chưa có hình thức nào mua lại toàn bộ ngân hàng trong nước. Hiện các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam hiện diện dưới 3 hình thức: 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện và chi nhánh.

Đối với ngân hàng 0 đồng, thay vì tìm nhà đầu tư chiến lược mua cổ phần bị giới hạn bởi room 30% có thể chuyển thành 100% vốn nước ngoài bằng cách bán cả cho đối tác nước ngoài. Về mặt pháp lý, phương án này không sai luật tổ chức tín dụng.

Phải có ràng buộc

Một vấn đề được đặt ra là, khi tái cấu trúc, nhà đầu tư ngoại muốn mua cổ phần của ngân hàng 0 đồng, việc định giá cổ phần của các ngân hàng này sẽ như thế nào? TS Bùi Quang Tín khẳng định, việc định giá cổ phần các ngân hàng phải tuân theo nguyên tắc của kinh tế thị trường.

"Sẽ có một đơn vị kiểm toán độc lập, có thể là đơn vị kiểm toán của Nhà nước hoặc của các doanh nghiệp nước ngoài vào kiểm toán, định giá lại toàn bộ ngân hàng, xác định các khoản nợ xấu, giá trị thị trường của các tài sản đang có... Khi hai bên ngã giá với nhau, đối tác nước ngoài chắc chắn sẽ trả theo giá thị trường của những tài sản này.

Cần lưu ý rằng, nói ngân hàng 0 đồng nhưng lúc đó sẽ xác định số tiền huy động vốn hiện tại là bao nhiêu, số tiền cho vay bao nhiêu, chất lượng các tài sản nợ ra sao.... Dĩ nhiên để làm được như vậy cần có quy định cụ thể, rõ ràng của Nhà nước", vị chuyên gia nói.

Trong khi đó, PGS.TS Ngô Hướng nhấn mạnh, các nhà đầu tư nước ngoài hay bất kỳ ai muốn mua ngân hàng 0 đồng phải đi kèm với điều kiện, đó là phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của ngân hàng cũng như với người gửi tiền vào ngân hàng.

"Phải có hợp đồng giữa bên mua và bên bán, trong đó quy định rõ trách nhiệm, thời hạn thanh toán các khoản nợ, chịu trách nhiệm với người gửi tiền như thế nào...

Vấn đề là NHNN phải đưa ra những quy định, luật lệ rõ ràng về việc đơn vị mua lại ngân hàng phải chịu trách nhiệm gì, nếu thấy đảm bảo được thì đối tác sẽ mua".

Theo Thành Luân Đất Việt

Tags:

Năm 2025, tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai tăng 15,92%

Số liệu chính thức về hoạt động tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai cho thấy, kết thúc năm 2025, tín dụng khu vực này đạt 5.806,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,92% so với năm 2024, phản ánh tốc độ tăng trưởng cao gắn liền với kết quả tăng trưởng kinh tế - xã hội khu vực cũng như cơ chế chính sách, điều hành chính sách tiền tệ tín dụng của Ngân hàng Nhà nước.

Làm tốt hoạt động ngân hàng đối với khu công nghiệp, khu chế xuất góp phần phát triển kinh tế - xã hội

Mở rộng và phát triển dịch vụ ngân hàng đối với khu công nghiệp, khu chế xuất không chỉ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, mà còn tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) mở rộng các hoạt động dịch vụ ngân hàng.

Nam A Bank tiên phong khởi xướng cộng đồng tài chính xanh – Đòn bẩy của Trung tâm Tài chính Quốc tế TP.HCM

Tại Hội thảo “Thúc đẩy tài chính xanh và sàn giao dịch tín chỉ carbon trong trung tâm tài chính quốc tế”, Nam A Bank đã tiên phong đề xuất thành lập Cộng đồng Tài chính xanh. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm xây dựng hệ sinh thái bền vững, đồng hành cùng Trung tâm Tài chính Quốc tế TP.HCM (VIFC) hiện thực hóa mục tiêu Net Zero 2050, thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam.

Nam A Bank tăng trưởng quy mô vượt trội trong năm 2025, chất lượng tài sản được cải thiện đáng kể

Kết thúc năm 2025, Ngân hàng TMCP Nam Á (HOSE: NAB) ghi nhận kết quả kinh doanh với các chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đạt 18,2%, tổng tài sản tiệm cận mốc 420.000 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng duy trì ở mức thấp 2,15% (1,93% trước CIC); tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng mạnh lên mức hơn 54%.

NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% năm 2026, yêu cầu kiểm soát chặt vào lĩnh vực rủi ro

Bám sát Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách kinh tế vĩ mô khác góp phần ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thực hiện tái cơ cấu các ngân hàng chuyển giao bắt buộc, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Video