Báo chí kinh tế và sứ mệnh khơi thông dòng vốn

Trong nền kinh tế số, dữ liệu, thông tin và niềm tin đang trở thành những yếu tố quyết định khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp.
Báo chí kinh tế không chỉ phản ánh thực tiễn mà còn góp phần củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ khơi thông dòng vốn cho nền kinh tế

Khi bất cân xứng thông tin vẫn là rào cản lớn đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, báo chí kinh tế không chỉ thực hiện chức năng truyền thông mà còn góp phần giảm chi phí thông tin, củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ khơi thông dòng vốn cho nền kinh tế.

Từ tài sản hữu hình đến tài sản niềm tin

Trong nền kinh tế truyền thống, dòng vốn thường tìm đến nơi có tài sản. Ngân hàng xem xét tài sản bảo đảm. Nhà đầu tư đánh giá quy mô vốn. Thị trường nhìn vào những gì doanh nghiệp đang sở hữu. Nhưng trong nền kinh tế số, điều đó đang thay đổi rất nhanh. Ngày nay, dòng vốn không chỉ đi theo tài sản mà ngày càng đi theo dữ liệu. Năng lực tiếp cận vốn của doanh nghiệp không còn phụ thuộc chủ yếu vào quy mô tài sản hữu hình, mà ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào chất lượng thông tin, mức độ minh bạch dữ liệu và khả năng tạo dựng niềm tin với thị trường.

TS. Tô Hoài Nam, Phó chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội DNNVV Việt Nam

TS. Tô Hoài Nam, Phó chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội DNNVV Việt Nam

Một doanh nghiệp có thể không sở hữu nhiều bất động sản, nhưng có dữ liệu tài chính minh bạch, lịch sử giao dịch tốt, khả năng quản trị hiệu quả và triển vọng tăng trưởng rõ ràng vẫn có khả năng tiếp cận nguồn vốn tốt hơn trước đây. Ngược lại, một doanh nghiệp sở hữu nhiều tài sản nhưng thiếu minh bạch thông tin sẽ ngày càng khó nhận được sự tin tưởng của ngân hàng, nhà đầu tư và đối tác. Đây là xu hướng đang diễn ra trên thế giới và từng bước trở thành thực tiễn tại Việt Nam. Nếu nhìn rộng hơn, có thể thấy nhiều chủ trương lớn của Đảng trong thời gian gần đây đều hướng tới xây dựng một nền kinh tế vận hành trên dữ liệu, trên tính minh bạch và trên niềm tin thị trường.

Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định dữ liệu là nguồn tài nguyên mới, là yếu tố đầu vào quan trọng của nền kinh tế số. Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân tiếp tục khẳng định yêu cầu tạo dựng môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi và bình đẳng để kinh tế tư nhân phát triển trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ thống pháp luật minh bạch, ổn định, dễ dự báo nhằm giảm chi phí tuân thủ và gia tăng niềm tin cho doanh nghiệp. Nhìn từ mọi góc độ vào những định hướng đó đều gặp nhau ở một điểm chung: muốn khơi thông nguồn lực xã hội thì trước hết phải khơi thông thông tin. Tuy nhiên, điều thị trường vốn Việt Nam còn thiếu chính là niềm tin để dòng vốn được khơi thông hiệu quả.

Nghịch lý của khu vực doanh nghiệp lớn nhất nền kinh tế

"Muốn khơi thông nguồn lực xã hội thì trước hết phải khơi thông thông tin."

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hiện chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, tạo việc làm cho phần lớn lao động khu vực chính thức, đóng góp đáng kể cho GDP, ngân sách nhà nước và duy trì sức sống của nền kinh tế địa phương. Điểm mạnh nổi bật của DNNVV là tính linh hoạt. Khi thị trường biến động, doanh nghiệp nhỏ thường thích ứng nhanh hơn; khi nhu cầu thay đổi, họ cũng có thể điều chỉnh mô hình kinh doanh kịp thời hơn. Thế nhưng, có một nghịch lý tồn tại kéo dài nhiều năm. Đó là khu vực doanh nghiệp đông đảo nhất, tạo nhiều việc làm nhất, lan tỏa sâu rộng nhất, nhưng lại là khu vực khó tiếp cận vốn nhất.

Thông thường, khi nói đến khó khăn về vốn của DNNVV, người ta thường nhắc tới tài sản thế chấp, quy mô nhỏ hay năng lực tài chính hạn chế. Những yếu tố đó đúng, nhưng chưa phản ánh đầy đủ bản chất của vấn đề. Theo nghiên cứu của VINASME, một trong những điểm nghẽn lớn nhất không phải là doanh nghiệp thiếu năng lực kinh doanh, mà là thiếu khả năng chứng minh năng lực kinh doanh của mình. Rất nhiều doanh nghiệp có khách hàng thật, đơn hàng thật, dòng tiền thật, năng lực sản xuất thật nhưng lại không có đủ dữ liệu chuẩn hóa để thị trường vốn nhận diện đầy đủ giá trị của họ. Khoảng cách giữa giá trị thực và khả năng chứng minh giá trị đang trở thành một trong những nguyên nhân quan trọng nhất làm hạn chế khả năng tiếp cận vốn của DNNVV. Đó chính là câu chuyện của thông tin.

Ba tầng điểm nghẽn đang cản trở dòng vốn

Để nhìn rõ hơn nguyên nhân khiến dòng vốn chưa thể chảy mạnh vào khu vực DNNVV, cần nhận diện ba tầng điểm nghẽn đang tồn tại trong hệ sinh thái thông tin và tiếp cận vốn hiện nay.

Tầng thứ nhất là nghẽn dữ liệu.

Đây là điểm nghẽn cơ bản nhất. Trong nhiều năm, phần lớn DNNVV phát triển dựa trên kinh nghiệm của chủ doanh nghiệp, trên quan hệ thị trường và khả năng ứng biến linh hoạt. Mô hình này giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong giai đoạn đầu, nhưng khi bước vào môi trường cạnh tranh hiện đại, nó bộc lộ những hạn chế ngày càng rõ. Nhiều doanh nghiệp vẫn xem kế toán chủ yếu là công cụ phục vụ kê khai thuế. Dữ liệu kinh doanh phân tán ở nhiều nơi. Dòng tiền chưa được chuẩn hóa. Hệ thống báo cáo chưa phản ánh đầy đủ sức khỏe thực của doanh nghiệp. Kết quả là doanh nghiệp có thể hoạt động tốt nhưng không tạo ra được hồ sơ tín nhiệm đủ mạnh để tiếp cận các nguồn vốn chính thức. Vấn đề này cần được nhìn nhận công bằng hơn để khu vực DNNVV, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, không bị bỏ lại phía sau.

Tầng thứ hai là nghẽn thông tin thị trường.

Không chỉ doanh nghiệp thiếu thông tin về các nguồn vốn phù hợp với từng giai đoạn phát triển; ở chiều ngược lại, nhiều ngân hàng cũng thiếu thông tin đầy đủ về doanh nghiệp. Nhiều quỹ đầu tư cũng thiếu các nguồn thông tin đủ độ tin cậy về doanh nghiệp. Điều đó tạo nên tình trạng bất cân xứng thông tin. Khi thông tin không đầy đủ, chi phí đánh giá rủi ro tăng lên. Khi chi phí vốn tăng lên, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường là nhóm chịu tác động đầu tiên. Có thể nói, nhiều trường hợp dòng vốn không bị tắc vì thiếu tiền mà bị tắc vì thiếu thông tin.

Tất nhiên, ngân hàng không thể cho vay nếu không đánh giá được đầy đủ đối tượng vay vốn. Quỹ đầu tư không thể đầu tư vào điều họ không hiểu. Và doanh nghiệp không thể tiếp cận được nguồn lực nếu không chứng minh được giá trị của mình.

Tầng thứ ba là nghẽn hệ sinh thái.

Đây là tầng điểm nghẽn ít được nhắc tới nhưng lại mang ý nghĩa quyết định. Không thể yêu cầu một doanh nghiệp siêu nhỏ hoặc một doanh nghiệp vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh tự mình hoàn thành toàn bộ quá trình số hóa, minh bạch hóa, chuẩn hóa dữ liệu, xây dựng hồ sơ tín nhiệm và kết nối thị trường vốn. Để làm được điều đó, họ cần một hệ sinh thái hỗ trợ. Hệ sinh thái đó bao gồm cơ quan quản lý, ngân hàng, tổ chức tín dụng, hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức tư vấn, nền tảng công nghệ và báo chí kinh tế. Nếu các chủ thể được kết nối thành một hệ sinh thái hỗ trợ thống nhất, quá trình nâng chuẩn của doanh nghiệp sẽ diễn ra nhanh hơn, hiệu quả hơn và ít tốn kém hơn.

Thông tin đang trở thành hạ tầng mềm của nền kinh tế

Trong nhiều thập kỷ, chúng ta nói nhiều về hạ tầng giao thông, hạ tầng năng lượng, hạ tầng logistics. Đó là những hạ tầng cứng tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông. Nhưng trong nền kinh tế số, một loại hạ tầng mới đang hình thành. Đó là hạ tầng thông tin. Nếu giao thông kết nối hàng hóa thì thông tin kết nối dòng vốn. Nếu hạ tầng cứng giúp lưu thông sản phẩm thì hạ tầng thông tin giúp lưu thông niềm tin. Một nền kinh tế có thể có nhiều doanh nghiệp tốt, nhưng nếu thiếu hệ thống thông tin minh bạch, dòng vốn vẫn không thể được phân bổ hiệu quả. Ngược lại, khi dữ liệu được chuẩn hóa, thông tin được kết nối và niềm tin được củng cố, dòng vốn sẽ tự tìm đến những nơi sử dụng vốn hiệu quả nhất. Đó là lý do dữ liệu, thông tin và niềm tin đang dần trở thành những yếu tố hạ tầng có ý nghĩa không kém các công trình vật chất truyền thống.

Báo chí kinh tế: cầu nối của niềm tin thị trường

 Nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, thiết nghĩ cần nhìn nhận đầy đủ hơn vai trò của báo chí trong nền kinh tế thị trường hiện đại.

Thông thường, khi nói về báo chí, chúng ta nhấn mạnh chức năng thông tin, tuyên truyền, phản biện xã hội và đồng hành cùng sự phát triển của đất nước. Điều đó hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế số và thị trường vốn phát triển ngày càng sâu rộng, báo chí còn thực hiện một chức năng rất quan trọng khác, đó là giảm bất cân xứng thông tin và tạo dựng niềm tin thị trường.

Nếu nhìn từ góc độ này trong mối quan hệ giữa báo chí và doanh nghiệp, có thể thấy rất rõ rằng doanh nghiệp tạo ra của cải vật chất, tạo việc làm, tạo nguồn thu cho nền kinh tế. Nhưng để những giá trị đó được xã hội, nhà đầu tư, ngân hàng và đối tác nhận diện đầy đủ thì cần có thông tin. Ngược lại, báo chí có nguồn thông tin phong phú từ thực tiễn doanh nghiệp để phản ánh hơi thở của nền kinh tế, phát hiện các vấn đề chính sách, lan tỏa các mô hình tốt và cảnh báo những rủi ro tiềm ẩn của thị trường. Nói cách khác, trong khía cạnh này, doanh nghiệp là chủ thể tạo ra giá trị, còn báo chí là cầu nối giúp lan tỏa, kiểm chứng và đưa những giá trị đó đến với thị trường.

Trong nền kinh tế hiện đại, một doanh nghiệp tốt nhưng không được thị trường nhận diện đầy đủ thì vẫn có thể gặp khó khăn trong tiếp cận vốn, mở rộng thị trường hoặc thu hút đối tác. Ngược lại, thông tin không chính xác, thiếu kiểm chứng hoặc bị méo mó có thể làm gia tăng chi phí vốn, làm suy giảm niềm tin của nhà đầu tư và ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất - kinh doanh.

Từ góc độ kinh tế học, báo chí góp phần làm giảm “chi phí thông tin” của nền kinh tế, qua đó hỗ trợ giảm chi phí đánh giá rủi ro và chi phí vốn cho doanh nghiệp. Khi chi phí vốn giảm xuống, doanh nghiệp có thêm cơ hội đầu tư, mở rộng sản xuất - kinh doanh. Theo nghĩa đó, báo chí không chỉ phản ánh mà còn gián tiếp góp phần dẫn dắt dòng vốn.

Đối với báo chí kinh tế, vai trò này càng trở nên đặc biệt quan trọng. Báo chí kinh tế không chỉ đưa tin về doanh nghiệp hay thị trường chứng khoán. Báo chí kinh tế đang thực hiện đồng thời ba sứ mệnh.

Thứ nhất, là cầu nối thông tin giữa doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý, giúp các chủ thể hiểu nhau hơn và giảm khoảng cách thông tin.

Thứ hai, là kênh phản biện chính sách từ thực tiễn, giúp phát hiện những rào cản thể chế, những chi phí tuân thủ bất hợp lý và những khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.

Thứ ba, là kênh xây dựng niềm tin thị trường, thông qua việc lan tỏa các mô hình tốt, bảo vệ sự minh bạch, đấu tranh với thông tin sai lệch và nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp.

Trong một nền kinh tế mà dữ liệu đang trở thành tài sản và niềm tin đang trở thành nguồn lực phát triển, báo chí kinh tế thực chất đang tham gia vào quá trình kiến tạo “hạ tầng mềm” của quốc gia. Nếu giao thông kết nối hàng hóa thì báo chí kết nối niềm tin. Và khi niềm tin được củng cố, dòng vốn sẽ vận động hiệu quả hơn, minh bạch hơn và bền vững hơn.

Biến thông tin thành nguồn lực phát triển

 Nhìn rộng hơn, câu chuyện minh bạch thông tin không còn là vấn đề riêng của từng doanh nghiệp, từng ngân hàng hay từng cơ quan quản lý. Trong bối cảnh Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tiếp, phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân, xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, nâng hạng thị trường chứng khoán và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, nhu cầu huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực xã hội sẽ ngày càng lớn.

Đó cũng là lý do vì sao việc xây dựng hạ tầng thông tin cho nền kinh tế cần được nhìn nhận với tầm quan trọng không kém hạ tầng giao thông, hạ tầng năng lượng hay hạ tầng số. Bởi xét đến cùng, hạ tầng cứng giúp lưu thông hàng hóa, còn hạ tầng thông tin giúp lưu thông niềm tin và nguồn lực phát triển.

Thực tiễn cho thấy, nhiều năm qua chúng ta đã tập trung khá nhiều vào việc tạo nguồn vốn, mở rộng tín dụng, phát triển thị trường vốn và đa dạng hóa các kênh huy động nguồn lực. Đây là những giải pháp cần thiết. Tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm đến phía “cung vốn” mà chưa giải quyết căn cơ bài toán minh bạch thông tin và củng cố niềm tin thị trường, thì hiệu quả phân bổ nguồn lực vẫn sẽ bị hạn chế.

Từ góc độ đó, tôi cho rằng cần có những giải pháp đồng bộ hơn, với sự tham gia của Nhà nước, hệ thống tài chính - ngân hàng, cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức xã hội nghề nghiệp và đặc biệt là báo chí kinh tế, nhằm từng bước biến thông tin thành nguồn lực phát triển, biến dữ liệu thành tài sản và biến niềm tin thành động lực thúc đẩy tăng trưởng.

Trong đó, cần đặc biệt coi trọng và phát huy vai trò của báo chí kinh tế như một thành tố quan trọng của hạ tầng thông tin quốc gia. Đồng thời, cần có cơ chế hỗ trợ phát triển báo chí dữ liệu, báo chí kinh tế chuyên sâu, các chuyên trang về thị trường vốn, DNNVV, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Mục tiêu không chỉ là cung cấp thông tin mà còn nâng cao chất lượng minh bạch của thị trường, góp phần giảm chi phí thông tin, giảm chi phí vốn và củng cố niềm tin đầu tư. Khi dữ liệu được kết nối, thông tin được công khai và minh bạch hơn, báo chí phát huy tốt vai trò dẫn dắt và phản biện, doanh nghiệp sẽ được nhận diện đúng hơn, dòng vốn sẽ được phân bổ hiệu quả hơn và nền kinh tế sẽ có thêm động lực để phát triển nhanh, xanh và bền vững trong kỷ nguyên số.

Theo Báo Đầu tư Chứng khoán

Nam A Bank tiên phong triển khai hệ thống SIMO – Lá chắn công nghệ trước rủi ro lừa đỏa trực tuyến

Nhằm thực hiện chiến lược chuyển đổi số và nâng cao an toàn an ninh trong hoạt động thanh toán, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chính thức triển khai dịch vụ hỗ trợ tra cứu trạng thái tài khoản thanh toán và ví điện tử nghi ngờ gian lận qua Hệ thống SIMO. Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank) là một trong những đơn vị tiên phong được lựa chọn triển khai sớm dịch vụ này từ ngày 25/5/2026.

Thúc đẩy ứng dụng công nghệ số để xanh hóa chuỗi giá trị nông sản

Hướng tới nền nông nghiệp hiện đại, bền vững, TP. Hồ Chí Minh đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi xanh, kết nối các doanh nghiệp khởi nghiệp, hợp tác xã (HTX) và doanh nghiệp địa phương nhằm xây dựng các mô hình sản xuất tiên tiến, xanh hóa chuỗi giá trị nông sản.